In bài viết Đóng lại

Tóm tắt luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Đinh Thị Xuân Hoà (bản tiếng Việt)

10/12/2012

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

 Hoạt động XHH sản xuất chương trình truyền hình hiện đang ngày một phát triển ở Việt Nam. Tuy nhiên, nhận thức về hoạt động này vẫn còn có nhiều ý kiến chưa thống nhất. Một số quan điểm cho rằng: XHH sản xuất chương trình truyền hình là một xu thế, là một việc làm cần kíp. Nếu không mở cửa đón nhận xu thế này truyền hình sẽ đánh mất cơ hội để phát triển. Nhưng cũng có quan điểm lại cho rằng: không nên XHH đối với truyền hình, vì nó sẽ khiến cho truyền hình dễ bị thao túng bởi các quyền lợi cá nhân và các mục đích kinh doanh thuần tuý. Trong khi, người ta đang còn tranh cãi nhau, thì XHH trong lĩnh vực sản xuất chương trình truyền hình vẫn diễn ra. Hoạt động này mặc dù thúc đẩy quá trình phát triển nhưng lại cũng đang đặt ra những thách thức không nhỏ đối với đài truyền hình, các đối tác cùng các đơn vị liên quan trên nhiều phương diện: quản lý nội dung, cấu trúc nhân sự, xây dựng chiến lược phát triển, đặc biệt là giữ vững định hướng tuyên truyền.

Như vậy, cả trong lý luận và thực tiễn, hoạt động XHH sản xuất chương trình truyền hình đều đặt ra những yêu cầu cần phải được nghiên cứu, giải quyết nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng của truyền hình Việt Nam, đáp ứng tốt nhất nhu cầu thông tin, thưởng thức của khán giả.

Với lí do trên, chúng tôi đã chọn đề tài “Vấn đề xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình ở Việt Nam hiện nay” để thực hiện luận án tiến sĩ chuyên ngành báo chí học.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1. Mục đích nghiên cứu

 Trên cơ sở hệ thống hóa lí luận và thực tiễn, luận án bổ sung, phát triển khung lí thuyết về hoạt động XHH sản xuất chương trình truyền hình; từ cơ sở này luận án nghiên cứu, dựng nên một bức tranh toàn diện, khái quát về thực trạng, làm rõ những thành công, hạn chế của hoạt động XHH sản xuất chương trình truyền hình ở Việt Nam; dự báo xu hướng phát triển và kiến nghị các giải pháp nhằm giải quyết hợp lý, có hiệu quả hoạt động đó trong thời gian tới.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nêu trên, luận án phải thực hiện những nhiệm vụ sau: (1) Làm rõ những vấn đề lý luận về XHH sản xuất chương trình truyền hình. (2) Tiến hành khảo sát, thống kê, phân tích làm rõ thực trạng hoạt động XHH sản xuất các chương trình truyền hình thông qua phân tích các hình thức hợp tác sản xuất và quản lí với các chương trình đã phát sóng trên sóng truyền hình ở Việt Nam trong thời gian qua. (3) Từ những lý luận cơ bản, cùng với việc tham khảo kinh nghiệm hoạt động XHH của nước ngoài, kết hợp với thực tiễn ở Việt Nam để dự báo, chỉ ra những khả năng phát triển tiếp theo của hoạt động XHH sản xuất chương trình truyền hình ở Việt Nam trong thời gian tới cùng những thách thức phải đối mặt. (4) Đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm giải quyết hợp lí, có hiệu quả hoạt động XHH sản xuất chương trình truyền hình phù hợp với điều kiện của Việt Nam.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

 - Đối tượng nghiên cứu của đề tài: là hoạt động XHH sản xuất chương trình truyền hình, cách thức khai thác, quản lí hoạt động này ở Việt Nam.

 - Đối tượng khảo sát: (1) Các chương trình truyền hình được thực hiện bằng hình thức XHH. (2) Các nhà báo, các nhà lãnh đạo, quản lí các đài TH ở Việt Nam, một số cá nhân, tổ chức bên ngoài đài đang tham gia sản xuất chương trình cho các đài TH. (3) Khán giả truyền hình - đây là những người đón nhận và chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các chương trình được sản xuất theo hình thức XHH. (4)Tuy nhiên, để làm rõ hơn thực trạng và đưa ra cơ sở lý thuyết chúng tôi sẽ kế thừa những số liệu đã nghiên cứu từ nhiều nguồn khác.

 - Phạm vi khảo sát, nghiên cứu: Luận án tập trung vào tìm hiểu những hoạt động cùng những chương trình đã, đang được thực hiện theo hình thức XHH tại 12 đài TH đại diện trên cả nước, như: ĐàiTHVN, Đài TH kỹ thuật số VTC, Đài truyền hình TP. Hồ Chí Minh, Đài PTTH Hà Nội, Đài PTTH Quảng Ninh, Đài PTTH Hà Giang, Đài PTTTH Nghệ An, Đài PTTH Đà Nẵng, Đài PTTH Khánh Hòa, Đài PTTH Vĩnh Long, Đài PTTH Cần Thơ, Đài PTTH Hậu Giang và một số đài TH khác ở Việt Nam. Các đài kể trên được chọn theo cơ cấu: trung ương - địa phương, vùng miền, đoàn thể. Đây là những đài TH hoạt động XHH xuất hiện sớm và phát triển mạnh mẽ ở Việt Nam hiện nay.

4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1. Cơ sở lí luận:

 Việc nghiên cứu đề tài này được thực hiện dựa trên cơ sở quán triệt các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam tại các kỳ Đại hội gần đây, các chủ trương, văn bản pháp luật của Nhà nước có liên quan đến hoạt động XHH, hoạt động báo chí và hệ thống lý luận báo chí nói chung, báo chí truyền hình nói riêng.

4.2. Phương pháp nghiên cứu:

 - Phương pháp khảo sát thực tiễn: được dùng để xác định ý tưởng nghiên cứu, phác thảo bức tranh về thực trạng, xác định những vấn đề đặt ra trong hoạt động XHH của ngành truyền hình Việt Nam.

 - Phương pháp nghiên cứu tài liệu: được tiến hành đối với các công trình khoa học lí luận về truyền hình của các tác giả trong và ngoài nước đã công bố. Phương pháp này được sử dụng với mục đích khái quát, bổ sung hệ thống lí thuyết về truyền hình nói chung và hoạt động XHH sản xuất chương trình truyền hình nói riêng. Đây chính là những lí thuyết cơ sở đánh giá các kết quả khảo sát thực tế và đưa ra những giải pháp khoa học cho vấn đề nghiên cứu.

 - Phương pháp thống kê - so sánh: được sử dụng nhằm xác định tần số xuất hiện, mức độ phát triển, chất lượng, hiệu quả những chương trình có sự phối hợp sản xuất giữa đài truyền hình với các đối tác bên ngoài với những chương trình hoàn toàn do phóng viên của đài độc lập sản xuất. Phương pháp này được dựa chủ yếu vào các báo cáo thống kê định kỳ, các điều tra và khảo sát chuyên môn của các Đài, các công ty truyền thông và các đơn vị liên quan thực hiện.

 - Phương pháp phân tích, tổng hợp:được dùng để phân tích, đánh giá và tổng hợp những kết quả nghiên cứu nhằm chỉ ra những thành công, hạn chế, nguyên nhân cùng những thách thức trong quá trình thực hiện XHH sản xuất chương trình truyền hình ở nước ta.

 - Phương pháp phỏng vấn sâu: được thực hiện với 35 cán bộ lãnh đạo quản lý thuộc các cơ quan quản lí nhà nước, các đài TH, các tổ chức bên ngoài đài và các phóng viên của các đài TH đang tham gia vào hoạt động XHH sản xuất chương trình nhằm thu thập ý kiến đánh giá của cá nhân xung quanh vấn đề này.

 - Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: được thực hiện nhằm lấy ý kiến khách quan về chất lượng, hiệu quả cũng như nhu cầu của công chúng về những chương trình truyền hình được thực hiện theo hình thức XHH. Dung lượng mẫu là 800 phiếu, lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên ở 4 địa bàn Hà Nội, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh và Cần Thơ.

Ngoài ra, chúng tôi còn tham khảo thêm một số phương pháp khác như phương pháp phân tích SWOT… để phân tích hoạt động hợp tác sản xuất của các đơn vị cũng như làm cơ sở đưa ra một số giải pháp phù hợp .

5. Giả thuyết nghiên cứu

 - XHH sản xuất chương trình truyền hình là một quy luật phát triển, vừa là sự hợp tác vừa là sự cạnh tranh. Sẽ không thấy được rõ bản chất, quy luật vận hành của hoạt động này nếu không nghiên cứu một cách toàn diện những vấn đề liên quan, cụ thể từ khái niệm, vai trò ý nghĩa, phương thức hợp tác, nguyên tắc XHH đến việc thực thi cũng như hoàn thiện hệ thống luật pháp - hành lang pháp lý để đảm bảo cho quá trình XHH truyền hình thực hiện hiệu quả.

 - Hoạt động XHH sản xuất chương trình truyền hình ở Việt Nam phát triển ngày càng rầm rộ, đem lại nhiều kết quả đáng khích lệ, tuy nhiên bên cạnh đó, hoạt động này cũng còn bộc lộ những hạn chế, điều này đã tác động tiêu cực vào quá trình phát triển của các đài truyền hình nói riêng và ngành truyền hình nói chung. Nếu không có những khảo sát, phân tích một cách khoa học thực trạng đang diễn ra từ đó chỉ ra những thành công, hạn chế, những cơ hội và thách thức phải đối mặt cùng những giải pháp thực hiện hợp lí thì hoạt động XHH sẽ khó phát huy hết hiệu quả của những ưu thế mà thậm chí còn có những tác động khó lường khi để hoạt động này phát triển.

6. Những đóng góp mới về khoa học của luận án

 - Thứ nhất: Luận án triển khai nghiên cứu hệ thống và khái quát hóa khung lý thuyết về hoạt động XHH sản xuất chương trình truyền hình: (1)Làm rõ khái niệm về XHH sản xuất chương trình truyền hình và một số khái niệm liên quan để so sánh. (2)Tính tất yếu của hoạt động XHH. (3)Các hình thức XHH sản xuất chủ yếu. (4)Những nguyên tắc để đảm bảo tính định hướng nhưng vẫn khai thác, khuyến khích được các nguồn lực xã hội tham gia vào hoạt động sản xuất chương trình truyền hình... Khung lý thuyết này cùng các cơ sở thực tiễn sẽ làm nền tảng, chỗ dựa cho việc nghiên cứu, đánh giá các vấn đề liên quan đến XHH truyền thông nói chung và XHH sản xuất các chương trình truyền hình nói riêng.

 - Thứ hai: Điều tra, phân tích các hoạt động XHH ở một số đài truyền hình ở Việt Nam hiện nay một cách toàn diện, chi tiết qua các yếu tố cơ bản: đối tượng hợp tác, hình thức, nội dung XHH, các phương thức tổ chức, quản lí hoạt động XHH từ đó nhận định khái quát về thực trạng của hoạt động này trên thực tế. Luận án khẳng định tính tích cực của hoạt động XHH, đồng thời chú trọng chỉ rõ những hạn chế cần sớm khắc phục đặc biệt là về nhận thức cũng như quá trình quản lí hoạt động này.

 - Thứ ba: Trên cơ sở các kết luận khái quát đó, kết hợp với phân tích những kinh nghiệm phát triển lĩnh vực này của một số nước trên thế giới luận án dự báo những vấn đề đặt ra trong thời gian tới và đưa ra một hệ thống những giải pháp nhằm góp phần để hoạt động XHH sản xuất chương trình ở Việt Nam thực hiện có hiệu quả, phù hợp với thực tiễn.

7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

7.1. Ý nghĩa lí luận: Luận án là công trình khoa học đầu tiên tổng kết một cách hệ thống rút ra các luận điểm, các kết luận có tính lý luận về một vấn đề mới, đang có nhiều tranh cãi ở Việt Nam đó là XHH hoạt động truyền hình. Luận án được nghiên cứu thành công sẽ góp phần làm phong phú hơn những tri thức về truyền hình nói chung, vấn đề sản xuất, hợp tác sản xuất chương trình truyền hình nói riêng.

7.2. Ý nghĩa thực tiễn: Những kết quả nghiên cứu xuất phát từ lý luận và thực tế của luận án có thể là tài liệu tham khảo cho những nhà hoạch định chính sách; những người đang trực tiếp hoạt động, tham gia vào lĩnh vực truyền hình; là tài liệu phục vụ hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, học tập tại các cơ sở đào tạo cán bộ làm truyền hình và tất cả những ai quan tâm đến đề tài.

8. Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, tổng quan nghiên cứu đề tài, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận án gồm 4 chương, 16 tiết.

 

TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

 

Ngoài những tài liệu của nước ngoài, qua nghiên cứu chúng tôi thấy, trong những tài liệu đã công bố trong nước, các tác giả đã đề cập tới hoạt động XHH sản xuất chương trình truyền hình, cơ bản tập trung vào 4 nhóm nghiên cứu sau:

- Nhóm thứ nhất: gồm những nghiên cứu liên quan đến cơ sở lý luận truyền hình, những xu hướng phát triển của truyền hình Việt Nam trong xã hội hiện đại, đặc biệt là trong tiến trình hội nhập, toàn cầu hoá. Mặc dù có đề cập đến vấn đề XHH truyền hình nhưng chỉ ở một góc độ nhỏ lẻ và thường được nghiên cứu như một tác nhân nhỏ thúc đẩy sự phát triển của truyền hình trong xã hội hiện đại hoặc một giải pháp giúp truyền hình hội nhập phát triển.

- Nhóm thứ 2: là những đề tài, công trình khoa học đề cập tới vấn đề XHH truyền hình nhưng ở một góc độ hẹp, có tính chất khảo cứu đơn lẻ với tư cách giới thiệu một mô hình XHH cụ thể.

- Nhóm thứ ba: vấn đề XHH truyền hình được đề cập tới trong những tham luận tại các hội thảo khoa học, liên hoan truyền hình. Nhưng đa số các tham luận và các ý kiến ở đây mới chỉ mang tính đặt vấn đề, mang tính chất định tính, cá nhân.

- Nhóm thứ tư: vấn đề XHH, XHH sản xuất chương trình truyền hình được đề cập tới trong định hướng phát triển của Đảng, trong các văn kiện, nghị quyết, các văn bản pháp quy. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, một số quy định về hoạt động này mang tính chất khái quát, chưa bắt kịp yêu cầu thực tế vì vậy còn nhiều điểm bất cập.

Ngoài những công trình nghiên cứu trên, một số tờ báo, trang web cũng có những bài viết đơn lẻ đề cập đến những khía cạnh khác nhau của vấn đề XHH truyền hình... Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên mới bước đầu đề cập đến một số lát cắt của vấn đề XHH truyền hình.Về mặt học thuật, các công trình này chưa lý thuyết hóa được một cách khoa học những vấn đề cơ bản liên quan đến XHH sản xuất chương trình truyền hình. Về mặt thực tiễn, các công trình này cũng chưa chỉ ra được mạch lạc xu hướng của quá trình XHH truyền hình, chưa phác hoạ được bức tranh khái quát về thực trạng, lộ trình, những mô hình, nguyên tắc, những trở ngại khi tiến hành XHH sản xuất chương trình của ngành truyền hình Việt Nam hiện nay, do vậy, chưa đưa ra được giải pháp cụ thể để phát huy tối đa hiệu quả của hoạt động này nhằm giúp cho ngành truyền hình phát triển mạnh mẽ. Đây chính là khoảng trống cần tiếp tục được bổ sung và phát triển.

 

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ THỰC TIỄN

VỀ XÃ HỘI HÓA SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH

1.1. Khái niệm

1.1.1. Xã hội hoá

Thuật ngữ “xã hội hóa”, hiện được nhìn nhận, nghiên cứu dưới đa dạng các góc độ: xã hội học, kinh tế - chính trị học, triết học... Mặc dù, mỗi nghiên cứu có sự định nghĩa khác nhau về cụm từ này nhưng nhìn chung có sự tiệm cận ở việc cùng cho rằng: “xã hội hóa” chính là quá trình hình thành và khẳng định tính xã hội của mỗi thành viên hay một sự vật, sự việc nào đó. Trên cơ sở các phân tích, chúng tôi đưa ra một khái niệm riêng để tiện cho quá trình nghiên cứu tiếp theo: “Xã hội hóa là quá trình mở rộng sự tham gia, chia sẻ của xã hội với một hoạt động, một dịch vụ hay một tri thức vốn là độc quyền của một tổ chức hay cá nhân nhằm để hoạt động hay sản phẩm đó được nhiều người biết tới, sử dụng hay thưởng thức”

1.1.2. Xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình

Hiện nay, ở Việt Nam, công việc sản xuất - làm ra sản phẩm truyền hình không phải chỉ do các phóng viên của đài TH thực hiện, mà là công việc chung của nhiều người. Ở đó, họ có thể tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp làm nên sản phẩm truyền hình. Vậy nên, có thể hiểu: “Xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình là quá trình mở rộng sự tham gia và thu hút nguồn lực của các cá nhân, tổ chức hay doanh nghiệp vào một hay nhiều khâu trong quy trình sản xuất các chương trình truyền hình – đây vốn là công việc của một tổ chức chuyên trách về lĩnh vực truyền hình của nhà nước Việt Nam”

Việc tham gia của các cá nhân, đối tác bên ngoài vào hoạt động sản xuất chương trình (vốn trước đây chỉ của Nhà nước lo) không chỉ làm gia tăng về số lượng và chất lượng các chương trình, mà hoạt động này còn góp phần hạn chế sự độc quyền trong việc làm nên sản phẩm truyền hình. 

Thực tế, còn có một số khái niệm khác có một phần ý nghĩa gần giống với thuật ngữ XHH sản xuất chương trình truyền hình đó là “liên kết sản xuất chương trình truyền hình”, “xã hội hóa truyền hình”. Nhưng những thuật ngữ này lại có những nội hàm rộng hoặc hẹp quá, vì vậy để việc nghiên cứu sâu sắc hơn, bên cạnh việc bám sát những vấn đề thời sự, vấn đề vĩ mô của ngành truyền hình, luận án chỉ đi sâu nghiên cứu về một vấn đề cụ thể đó là: nghiên cứu việc tham gia của xã hội vào việc sản xuất làm nên sản phẩm truyền hình đó là “xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình”.

1.2. Những yếu tố thúc đẩy sự ra đời và phát triển hoạt động XHH sản xuất chương trình TH

1.2.1. Nhu cầu thông tin của công chúng và khả năng nội tại của đài truyền hình

 Để có nhiều chương trình hấp dẫn quy mô lớn, hiện đại phục vụ nhu cầu đa dạng của công chúng luôn cần tới các nguồn lực rất lớn: nhân lực, công nghệ, tài chính. Nhưng thực tế, không ít đài truyền hình còn khó khăn nhất là về tài chính. Vậy nên, việc cần có sự tham gia của các cá nhân, tổ chức, đặc biệt là các doanh nghiệp, các tập đoàn kinh tế vào hoạt động sản xuất chương trình truyền hình là điều cần thiết.

1.2.2. Sự phát triển của khoa học công nghệ

Khoa học kỹ thuật phát triển đã giúp cho các thiết bị thực hiện sản xuất chương trình truyền hình ngày một hiện đại, tiện nghi và đặc biệt là rẻ hơn rất nhiều so với trước. Đây là cơ hội giúp các cá nhân, tổ chức trong xã hội có thể dễ dàng tham gia vào hoạt động sản xuất các chương trình truyền hình cho đài truyền hình.

1.2.3. Khả năng của các đối tác

Sản phẩm truyền hình được làm ra với một quy trình phức tạp, đòi hỏi nhiều nguồn lực lớn. Thực tế, có nhiều cá nhân, tổ chức có tiềm lực mạnh về nhân lực cũng như kinh tế họ sẵn sàng đầu tư làm nên những chương trình chất lượng thậm chí chương trình “dài hơi” có giá trị để đóng góp với các đài TH.

1.2.4. Lợi ích về kinh tế

 Quá trình hợp tác giữa đài TH và đối tác để làm nên sản phẩm truyền hình bao giờ cũng gắn chặt với lợi ích của các bên. Đặc biệt, đối với đối tác, lợi ích đó là: được quảng bá thương hiệu nâng cao uy tín của mình trong xã hội và tìm kiếm các lợi ích về kinh tế từ nhiều nguồn nhưng trong đó lớn nhất là nguồn thu từ quảng cáo.

1.2.5. Tác động toàn cầu hóa - mở rộng quan hệ giao lưu quốc tế

 Kỷ nguyên toàn cầu hóa không những giúp truyền hình các quốc gia tiếp cận nhanh chóng với công nghệ sản xuất hiện đại mà còn giúp cho các chương trình truyền hình các quốc gia trở nên phong phú hơn thông qua các hoạt động đặt hàng, mua bán, trao đổi chương trình với những đối tác có khả năng ở nước ngoài.

1.2.6. Áp lực cạnh tranh thông tin

 Những nước phát triển có điều kiện về mọi mặt, thông tin truyền hình của họ phủ sóng rộng khắp mọi ngóc ngách của xã hội, tạo nên áp lực cạnh tranh thông tin mạnh mẽ giữa các nước, các phương tiện truyền thông. Việc mở rộng các hình thức sản xuất nhằm có nhiều chương trình hấp dẫn hơn nữa từ nhiều nguồn là điều tất yếu nếu như không muốn làm “tuột tầm tay” công chúng của mình.

1.2.7. Chính sách và cơ chế quản lý của Nhà nước

 Mỗi nước có nền kinh tế, chính trị, văn hóa khác nhau nhưng đều nhận thức và đánh giá cao vai trò của truyền hình trong việc thông tin, định hướng tư tưởng và đem lại lợi ích kinh tế. Vì vậy, đã có nhiều cơ chế chính sách kịp thời, phù hợp để tạo điều kiện cho hoạt động này phát triển, trong đó có chính sách huy động các nguồn lực xã hội - đây là cơ hội giúp cho sự tham gia của xã hội vào hoạt động truyền hình suôn sẻ, hiệu quả.

1.3. Các hình thức XHH sản xuất chương trình TH

1.3.1. Hợp tác sản xuất chương trình

 Đó là việc đài TH và các đối tác “bắt tay” cùng khai thác, sử dụng một cách hợp lí nguồn lực của mỗi bên (con người, phương tiện kỹ thuật, tài chính...) để tham gia vào quy trình sản xuất làm nên sản phẩm truyền hình. Có ba mức độ hợp tác: hợp tác sản xuất một phần chương trình, hợp tác sản xuất hoàn chỉnh một chương trình và hợp tác sản xuất nhiều chương trình cho một kênh truyền hình.

1.3.2. Đặt hàng sản xuất chương trình

 Trong hình thức đặt hàng, chủ thể đặt hàng là đài TH, đối tượng được đặt hàng là các công ty truyền thông. Với hình thức này, đài TH thường chủ động, các đối tác chỉ là người thực thi. Có ba mức độ đặt hàng: đặt sản xuất một phần chương trình, đặt sản xuất trọn vẹn một chương trình và đặt sản xuất chương trình cho cả kênh.

1.3.3. Khai thác chất liệu và sản phẩm truyền hình

 Khai thác chất liệu và sản phẩm truyền hình đó là việc đài TH tìm kiếm, lựa chọn những chất liệu (thông tin, hình ảnh thô) hoặc những sản phẩm truyền hình đã được cá nhân hoặc một tổ chức nào đó trong xã hội thực hiện, để sử dụng vào việc xây dựng một chương trình của một kênh truyền hình.

1.3.4. Trao đổi sản phẩm

 Nếu hình thức hợp tác, khai thác và đặt hàng sản xuất, sản phẩm đài sử dụng phải trả đối tác bằng tiền hoặc quyền lợi quảng cáo thì hình thức trao đổi sản phẩm là sự trao đổi chéo các chương trình giữa các đài, các tổ chức với nhau, không phải chi trả bằng khoản tài chính nào khác.

1.4. Những yêu cầu và điều kiện để hoạt động XHH sản xuất chương trình TH thành công

1.4.1. Mục đích, yêu cầu đối với hoạt động XHH

 - Mục đích: huy động các nguồn lực (nguồn lực sáng tạo và nguồn lực vật chất) từ các tổ chức, cá nhân ngoài đài TH cùng tham gia với đài để tạo ra nhiều sản phẩm truyền hình chất lượng đáp ứng nhu cầu đa dạng của công chúng.

 - Yêu cầu: sản phẩm truyền hình được sản xuất theo hình thức XHH phong phú về nội dung, hấp dẫn về hình thức, đúng định hướng, hài hòa lợi ích của mỗi bên tham gia; khai thác, sử dụng tối đa và hiệu quả các tiềm năng của đối tác vào quá trình hợp tác sản xuất; mối quan hệ giữa các bên trong quá trình hợp tác sản xuất lành mạnh, ổn định và không ngừng phát triển

1.4.2. Những điều kiện để hoạt động XHH sản xuất chương trình TH thành công

1.4.2.1. Xác định được năng lực sản xuất: Mỗi bên phải xác định được khả năng về nhân sự, về công nghệ, kỹ thuật và tài chính của mình trước khi tham gia làm nên sản phẩm truyền hình. Đây là cơ sở quyết định chất lượng sản phẩm cũng như tốc độ, sức bền của việc hợp tác sản xuất.

1.4.2.2. Xác định được năng lực quản lí: Nhà quản lí phải nắm vững được mục đích, điểm mạnh, yếu của việc mở rộng phối hợp sản xuất chương trình và trả lời được các câu hỏi: sản xuất chương trình đó cho ai xem? sản xuất cái gì? sản xuất bao nhiêu? ai sản xuất? quản lí, duyệt chương trình đó như thế nào?... Từ đó xây dựng chiến lược, lập kế hoạch và điều hành quá trình tạo ra sản phẩm hiệu quả.

1.4.2.3. Xác định, phân tích được cơ hội và thách thức: Ngoài xác định được những điểm nội tại của mình (điểm mạnh, điểm yếu), mỗi đơn vị cần phân tích được những tác động từ bên ngoài (cơ hội, thách thức) tới đơn vị mình khi tham gia XHH. Đây là cơ sở quan trọng để phát huy, khai thác tốt ưu điểm, thời cơ; hạn chế được những nhược điểm và đối phó linh hoạt với nguy cơ để có kết quả hợp tác tốt nhất.

1.4.2.4. Xây dựng môi trường hợp tác phù hợp: đó là hành lang pháp lí, cơ chế, chính sách chặt chẽ, phù hợp hoàn cảnh thực tế - đây cái “nôi” nuôi dưỡng, phát triển các mối quan hệ trong quá trình hợp tác sản xuất.

1.5. Đặc điểm, yêu cầu và tình hình phát triển của truyền hình Việt Nam

1.5.1. Quá trình phát triển của ngành truyền hình Việt Nam

1.5.1.1. Đài truyền hình Việt Nam

 Sau hơn 40 năm ra đời và phát triển, từ những bước chập chững thiếu thốn đủ thứ chỉ lo được một vài giờ sóng/ngày, đến nay, đài THVN đã không ngừng đổi mới và phát triển với nhiều kênh phát sóng quảng bá toàn quốc với thời lượng trung bình 120 giờ/ngày cùng 2 hệ thống truyền hình cáp (VCTV, SCTV) và hệ thống truyền hình kỹ thuật số vệ tinh DTH (VSTV) với hàng trăm kênh.

1.5.1.2. Các đài truyền hình địa phương

 Hiện nay, cả nước có 62 đài PTTH (trừ tỉnh Phú Yên, hiện đang xây dựng Đài PTTH tỉnh, dự kiến 2012 đưa vào sử dụng), với hơn 80 kênh phát sóng quảng bá. Thời lượng phát sóng (cả tiếp sóng đài THVN) trung bình là 18 giờ/kênh. Một số đài lớn tới phát sóng 24/24 giờ/ngày. Bên cạnh, chương trình phát sóng quảng bá, một số đài còn mở rộng khu vực truyền hình trả tiền.

1.5.1.3. Các đài truyền hình, kênh truyền hình khác

 Hiện ở Việt Nam còn có một số đài TH, các kênh truyền hình khác của các Bộ, các cơ quan báo chí như: Đài TH kỹ thuật số VTC, kênh truyền hình của Đài tiếng nói Việt Nam (VOVTV); kênh truyền hình Thông tấn (TTXVN); kênh truyền hình Công an nhân dân (ANTV).

1.5.2. Quan điểm của Đảng, Nhà nước và yêu cầu đặt ra đối với ngành truyền hình Việt Nam trong bối cảnh XHH

1.5.2.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về vấn đề XHH

 Quan điểm phát huy nguồn lực trong xã hội đóng góp cùng với nhà nước để giải quyết những vấn đề chung của xã hội đã được xác định, đề cập trong phương hướng phát triển bắt đầu từ đại hội Đảng VIII và các đại hội tiếp sau này.

1.5.2.2. Phương hướng phát triển của ngành truyền hình trước thực tế XHH

 Phát triển theo chủ trương chung của Đảng, Nhà nước trên cơ sở điều kiện, nhu cầu của mỗi đài truyền hình nhằm mục đích có được nhiều nhất những chương trình với nội dung phong phú, hấp dẫn phục vụ nhu cầu đa dạng của khán giả.

 

 Tiểu kết chương 1:

 Bản chất của hoạt động XHH sản xuất chương trình truyền hình là sự tham gia của mọi cá nhân, tổ chức một cách tự nguyện vào hoạt động làm nên sản phẩm truyền hình cho một đài TH - nơi mà trước đây vốn là hoạt động độc quyền của nhà nước. Có nhiều hình thức để xã hội tham gia vào hoạt động này. Mỗi hình thức có những ưu điểm và hạn chế riêng. Sự đa dạng này tạo ra sự phong phú cho hoạt động của ngành truyền hình nói chung và hoạt động tổ chức sản xuất chương trình của mỗi đài nói riêng.

    Để hoạt động XHH sản xuất chương trình truyền hình thành công, điều sống còn, quyết định sự tồn tại, thương hiệu của mỗi đơn vị khi tham gia hoạt động này đó là phải xác định được rõ ràng năng lực sản xuất, trình độ quản lí của bản thân cũng như đối tác, cơ hội, thách thức phải đối mặt và đặc biệt phải xây dựng được môi trường hợp tác - cái nôi nuôi dưỡng các mối quan hệ đa chiều nhưng bền vững.

 Những vấn đề lí luận và một số thực tiễn về hoạt động XHH trình bày ở chương 1 là tiền đề, cơ sở quan trọng để triển khai nội dung các chương tiếp theo của luận án.

Chương 2

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI HÓA SẢN XUẤT

CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1. Sự ra đời và phát triển hoạt động XHH sản xuất chương trình TH ở Việt Nam

2.1.1. Tình hìnhXHH sản xuất chương trình ở Đài THVN

Đài THVN là đơn vị đầu tiên triển khai hoạt động XHH. Ban đầu là sự hợp tác sản xuất và phát sóng một số chương trình của một số cơ quan, đoàn thể, các tổ chức chính trị xã hội. Đến nay, hoạt động này ngày càng phát triển với nhiều hình thức đa dạng. Hiện, trên hệ thống truyền hình quảng bá và truyền hình trả tiền của đài (VTV, VCTV và SCTV) có tổng số 143 kênh, trong đó sản xuất nội địa (trong nước sản xuất) là 41 kênh, còn lại 102 kênh là khai thác. Trong 41 kênh sản xuất nội địa, ở đó đều có một hay nhiều những chương trình được thực hiện theo hình thức XHH. Hiện nay, ở khu vực truyền hình quảng bá hoạt động XHH diễn ra chủ yếu ở mức độ XHH một phần; khu vực trả tiền mức độ đa dạng hơn, đặc biệt có XHH sản xuất chương trình cho cả kênh. 

2.1.2. Tình hình XHH sản xuất chương trình ở một số đài truyền hình địa phương

So với đài Quốc gia, hoạt động XHH ở các đài TH địa phương xuất hiện sau, phổ biến bắt đầu từ sau năm 2000. Hoạt động XHH phát triển mạnh nhất ở Đài TH TP Hồ Chí Minh và Đài PTTH Hà Nội, cả ở khu vực truyền hình quảng bá và truyền hình trả tiền. Trong đó, riêng thời lượng chương trình XHH trên kênh quảng bá chiếm trung bình khoảng 25 - 30% tổng thời lượng chương trình sản xuất mới.

Ở các đài TH địa phương khác, hoạt động XHH sản xuất cũng đã, đang tồn tại tuy nhiên số lượng, qui mô còn ít, chủ yếu thực hiện XHH một phần chương trình ở một số khung giờ.

2.1.3. Tình hình XHH ở Đài truyền hình kỹ thuật số VTC

Đài TH kỹ thuật số VTC thuộc Tổng Công ty truyền thông đa phương tiện VTC, thành lập ngày 19/8/2004. Năm 2007, hoạt động XHH bắt đầu được tiến hành và nhanh chóng phát triển. Đài được cấp phép sản xuất 18 kênh chương trình trong đó có 15 kênh quảng bá. Đài có 7 kênh XHH cả kênh, còn lại một số kênh khác thực hiện theo hình thức XHH một phần.

2.2. Đối tượng tham gia hoạt động XHH sản xuất chương trình TH ở Việt Nam

2.2.1. Các doanh nghiệp truyền thông

Hiện, ở Việt Nam có gần 3.000 doanh nghiệp truyền thông nhưng khảo sát từ năm 2008 đến 2011 thấy chỉ có khoảng hơn 50 công ty (20 ở miền Bắc, 30 miền Nam) hợp tác thường xuyên với các đài TH. Khảo sát cũng cho thấy, có công ty chỉ là đối tác duy nhất của một đài nhưng cũng có công ty lại là đối tác, phối hợp sản xuất cùng một lúc nhiều chương trình với nhiều đài. Mặc dù, số công ty tham gia thường xuyên còn chưa nhiều nhưng nhóm đối tượng này đã đóng góp thời lượng sóng gần như lớn nhất so với các đối tượng khác.

2.2.2. Các hãng phim tư nhân

Điều 17, nghị định 54/2010, luật Điện ảnh quy định: tỷ lệ thời lượng phát sóng phim Việt Nam của mỗi đài TH đạt ít nhất 30% so với tổng thời lượng phát sóng phim. Nghĩa là cứ hai phim nước ngoài phải có một phim Việt Nam. Vậy nên, chỉ với các hãng phim truyền hình Nhà nước thì không lo đủ số lượng phim đó để phát sóng trên các đài. Đến 2010, Việt Nam có khoảng hơn 40 hãng phim tư nhân đã, đang hợp tác sản xuất cung cấp phim cho các đài.

2.2.3. Các cơ quan, đoàn thể ở trung ương và địa phương

Đây là những cơ quan không chỉ cung cấp những nguồn tin nóng hổi, nguồn tài trợ kịp thời để các phóng viên tác nghiệp mà còn là những cơ quan có mối quan hệ hợp tác từ lâu và quan trọng trong sản xuất chương trình cho nhiều đài TH ở Việt Nam. Ví dụ: Bộ Y tế - cơ quan bảo trợ thông tin cho kênh O2TV…

2.2.4. Các cơ quan báo chí

Nhận thức được thế mạnh của truyền hình, hiện nay, ở Việt Nam, nhiều cơ quan thông tấn, báo chí (báo in, báo mạng điện tử, báo phát thanh...) đã phối hợp với truyền hình để chia sẻ thông tin và mở rộng tầm ảnh hưởng cũng như hình ảnh của cơ quan mình. Ví dụ: năm 2009, báo Thời báo kinh tế Việt Nam, báo Đầu tư đã tham gia một phần với Đài THVN sản xuất “Bản tin tài chính” (VTV1)…

2.2.5. Các cá nhân

Ở Việt Nam hình thức tham gia của các cá nhân vào sản xuất chương trình truyền hình đã xuất hiện và ngày một phổ biến. Giờ đây, khán giả không còn là người thụ động tiếp nhận thông tin truyền hình hình nữa mà họ cũng có thể tham gia sản xuất sản phẩm truyền hình như những nhà báo thực thụ. Các cá nhân đã tham gia chủ yếu vào việc đóng góp chất liệu - hình ảnh “thô” nhưng đậm giá trị thông tin, thời sự hoặc những sản phẩm “linh kiện” cho các đài TH.   

2.2.6. Các đối tác nước ngoài

Hiện nay, các đối tác nước ngoài tham gia chủ yếu qua hình thức khai thác, trao đổi sản phẩm hoặc cũng có thể thông qua việc hợp tác sản xuất chương trình với đài hay hợp tác với các công ty truyền thông để làm nên sản phẩm truyền hình.

2.3. Thực trạng các hình thức XHH sản xuất chương trình TH ở Việt Nam

2.3.1. Hợp tác sản xuất chương trình

Đây là hình thức xuất hiện nhiều trong hoạt động XHH ở nhiều đài TH ở Việt Nam. Qua khảo sát thấy rằng, mức độ hợp tác sản xuất một chương trình hoàn chỉnh chiếm đa số ở cả khu vực truyền hình quảng bá và trả tiền. Mỗi kênh có thể có nhiều đối tác cùng hợp tác sản xuất.

Tuy nhiên, trên một số kênh truyền hình trả tiền của một số đài hiện đang sử dụng hình thức hợp tác sản xuất ở mức độ: một đối tác có thể hợp tác sản xuất phần nhiều chương trình một kênh. FanshifanTV (VCTV1), RealTV (VCTV5), FNBC (HTVC)… là một số ví dụ cụ thể.  

2.3.2. Đặt hàng sản xuất chương trình

Hình thức này được sử dụng phổ biến ở các đài. Mức độ chủ yếu là: đặt hàng sản xuất một phần chương trình và đặt hàng sản xuất hoàn chỉnh một chương trình.

Ngoài hai mức kể trên, hiện trên một số kênh truyền hình trả tiền còn có hình thức đặt hàng sản xuất chương trình cho cả kênh. Với hình thức này, trừ phần thời lượng phát lại và khai thác thì 100% sản phẩm sản xuất mới là do một đối tác sản xuất. Đài chỉ là người ra đề bài, tư vấn về fomat và nghiệm thu những chương trình hoàn chỉnh của kênh đó. Hiện, cả nước có 4 đài có những kênh đặt hàng sản xuất chương trình cho cả kênh: Đài THVN, Đài TH TP. HCM, Đài TH kỹ thuật số VTC, Đài PTTH Hà Nội, với tổng số hơn 20 kênh. Với hình thức, mức độ này, đối tác đảm đương được thời lượng sản xuất mới trung bình 3 giờ/19 giờ/ngày.

2.3.3. Khai thác chất liệu và sản phẩm truyền hình

Trong thời gian khảo sát từ 2009 đến 2011, thấy rằng việc khai thác và sử dụng chất liệu xuất hiện phần lớn ở Đài THVN còn các đài địa phương rất hãn hữu. Ở Đài THVN, hình thức này lại chỉ thấy sử dụng ở trong một số chương trình thời sự và số lượng cũng không đáng kể.

So với thành phẩm là chất liệu thô, thành phẩm là những chương trình hoàn chỉnh chiếm số lượng nhiều hơn. Sản phẩm thuộc đa dạng các thể loại: từ phim, trò chơi, ca nhạc đến các chương trình văn hóa, thể thao... Nhiều đài đã khai thác sản phẩm của hàng chục đối tác, điều này tạo nên sự phong phú cho chương trình.

2.3.4. Trao đổi sản phẩm

Ở Việt Nam, hình thức này mới chỉ xuất hiện ở một số đài TH và tần xuất cũng như mức độ còn rất ít.

Tóm lại, qua khảo sát các hình thức XHH thấy rằng, có 23/40 chương trình sản xuất theo hình thức đặt hàng được lựa chọn xem thường xuyên (chiếm 57.5%) - xếp vị trí đầu tiên; đứng vị trí được lựa chọn nhiều thứ hai là chương trình sản xuất theo hình thức hợp tác: 11/40 chương trình (chiếm 27.5%); xếp thứ ba là chương trình sản xuất theo hình thức khai thác: 6/40 chương trình (chiếm 15.0%)

2.4 Thể loại và nội dung các chương trình sản xuất theo hình thức XHH

2.4.1. Chương trình giải trí

Các đối tác tham gia sản xuất đa dạng các dạng chương trình nhưng trong đó việc sản xuất chương trình giải trí chiếm số lượng lớn với khoảng hơn 50% tổng thời lượng các chương trình XHH ở các đài. Trong số đó, phim, trò chơi và ca nhạc truyền hình chiếm đa số. Hiện nay, để phục vụ nhu cầu thông tin chuyên sâu của khán giả một số đài đã phối hợp với một số đối tác xây dựng những kênh giải trí chuyên biệt và thường phát sóng trên hệ thống truyền hình cáp của các đài.

2.4.2. Chương trình tin tức, thời sự

Điều 5 chương 1, thông tư 19/2009/ TT - BTTTT của Bộ TT&TT, ban hành ngày 28/5/2009, quy định: “không thực hiện hoạt động liên kết đối với các chương trình phát thanh, truyền hình, thời sự, chính trị”. Nhưng trên thực tế, khảo sát thấy rằng hoạt động phối hợp sản xuất có xuất hiện trong một số chương trình thời sự ở một số đài. Cách thức chủ yếu là đặt hàng hoặc trao đổi thông tin từ các đài TH hoặc các cơ quan báo chí khác hoặc thậm chí các cá nhân trong xã hội. Bên cạnh những sản phẩm liên kết phần lớn dưới dạng “linh kiện”, một số đài đã đặt hàng các công ty sản xuất một số bản tin chuyên sâu về lĩnh vực kinh tế, văn hóa, thể thao.

2.4.3. Chương trình dạng chuyên mục

Đây là dạng chương trình (đứng thứ hai sau chương trình giải trí), cũng được các đối tác quan tâm phối hợp sản xuất. Thực tế, số đầu mục chương trình dạng chuyên mục nhiều hơn so với số đầu mục các chương trình giải trí nhưng về thời lượng thì lại ít hơn bởi mỗi chuyên mục thời lượng thường ngắn. Có chuyên mục chỉ dài khoảng 5 phút. Nội dung các chuyên mục phong phú, đa dạng về lĩnh vực, dành cho nhiều đối tượng khác nhau. Có 5 chuyên mục /40 chương trình XHH có tỷ lệ khán giả xem nhiều nhất.

2.4.4. Các dạng chương trình khác

Không chỉ dừng lại ở dạng chương trình với nội dung về kinh tế, sức khỏe, giao thông, thời trang... sự phối hợp trong sản xuất giữa đài TH và các đối tác trong những năm qua còn tạo ra những sản phẩm mang tính nhân văn sâu sắc, được nhiều khán giả hoan nghênh, đón đợi. Ví dụ: “Lục lạc vàng” (VTV1), “Vượt lên chính mình” (HTV7), “Chuyến xe nhân ái” (Đài PTTH Vĩnh Long)…

2.5. Phương thức tổ chức và quản lí hoạt động XHH sản xuất chương trình

2.5.1. Quy trình đăng kí, lựa chọn đối tác tham gia hoạt động XHH

Để có thể tham gia vào hoạt động XHH sản xuất chương trình, các đối tác đều phải thực hiện quy trình gần giống nhau và đều phải trải qua các bước: nộp hồ sơ, đài lập hội đồng thẩm định, duyệt. Sau đó sẽ kí kết và thực hiện theo hợp đồng. Trung tâm quảng cáo - dịch vụ truyền hình và Phòng (hoặc Ban Thư kí biên tập) của đài TH là hai đầu mối chính giúp đối tác giải quyết về mặt thủ tục.

2.5.2. Phương thức quản lí hoạt động XHH

- Quản lí cấp nhà nước

Hoạt động XHH phát triển rầm rộ ở nhiều đài nhất là từ đầu những năm 2000, nhưng đến tháng 5/2009 Bộ TT &TT mới có thông tư số 19/2009/TT-BTTTT quy định về việc “Liên kết trong hoạt động sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình”. Mặc dù ra đời muộn nhưng với những điều khoản cụ thể trong thông tư này đã góp phần làm cho hoạt động XHH ở các đài TH đi vào khuôn khổ hơn sau một thời gian gần như phát triển tự phát. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt được, việc quản lí hoạt động này vẫn còn tồn tại những thực tế cần khắc phục.

- Quản lí cấp Đài:

 Cách thức duyệt chương trình XHH ở các đài TH hiện nay đều được phân công cụ thể, quy trình có nhiều điểm chung. Đối với chương trình ở khu vực quảng bá hay trả tiền đều theo quy trình với khoảng 3 đầu mối duyệt: lãnh đạo phòng, hội đồng cấp ban và lãnh đạo ban (đài). Tuy nhiên, một số chương trình ở một số kênh do đặc thù về sản xuất, để đảm bảo chất lượng, chương trình đã có thêm một số khâu duyệt nữa (ví dụ: SCTV).

 Tiểu kết chương 2:

 - Hoạt động XHH sản xuất chương trình truyền hình hiện phát triển rộng khắp ở các đài TH trên cả nước. Nhưng hoạt động này phát triển mạnh mẽ nhất ở bốn đài TH là: Đài THVN, Đài TH TP. HCM, Đài TH kỹ thuật số VTC, Đài PTTH Hà Nội - đây là những đài ở những địa bàn có mật độ dân cư lớn, trình độ dân trí cao, điều kiện kinh tế phát triển.

 - Qua một thời gian thực hiện XHH thấy rằng việc tham gia vào hoạt động XHH của các đối tác không đơn giản bởi có hàng trăm doanh nghiệp truyền thông đã, đang tham gia hợp tác sản xuất chương trình với các đài nhưng chỉ có khoảng 50 đơn vị nổi trội, hợp tác tương đối bền vững.

 - Một thời gian dài hoạt động XHH phát triển tự phát, chưa thực sự bền vững bởi vấn đề quản lí chưa có những quy định cùng những biện pháp cụ thể, chặt chẽ. Nhưng hiện nay, nhận thức rõ hơn về thời cơ cũng như thách thức của hoạt động này đem lại, một số đài đang từng bước thay đổi cách thức quản lí nhằm mong muốn đưa hoạt động này đi vào nề nếp, huy động được nhiều hơn nguồn lực của xã hội.

 

Chương 3

THÀNH CÔNG, HẠN CHẾ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

TRONG HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI HÓA SẢN XUẤT

CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

3.1. Thành công của hoạt động XHH sản xuất chương trình TH

3.1.1. XHH- góp phần làm phong phú chương trình truyền hình

Nhờ có hoạt động XHH, thời lượng chương trình phát sóng trên mỗi kênh của nhiều đài TH đã tăng, phổ biến lên tới18h/ngày, có đài là 24h/24h. Cũng qua hình thức XHH, nhiều dạng chương trình mới (trò chơi, gặp gỡ giao lưu, phim ngắn, hài…) đã ra đời, phát triển và ngày càng có vị trí trong lòng khán giả. Có 40 chương trình XHH đã được khán giả lựa chọn thường xuyên nhất trong hàng trăm chương trình phát sóng hiện nay.

3.1.2. XHH - tạo nên sự năng động trong sản xuất của mỗi thành viên

Nhiều thành phần cùng phối hợp tham gia đã thúc đẩy sự cạnh tranh trong lĩnh vực truyền hình. Sự cạnh tranh đã buộc các cá nhân, tập thể (cả đài và đối tác) nỗ lực sản xuất nâng cao chất lượng chương trình để tồn tại hoặc có được vị trí sóng như mong muốn.

3.1.3. XHH - huy động được thêm nhiều nguồn lực xã hội, giảm gánh nặng cho đài truyền hình

Từ năm 2008 đến hết năm 2010, qua hoạt động XHH, riêng kênh VTV1 và VTV3 đã mang đến cho khán giả 23 bộ phim truyền hình Việt Nam với 899 tập với hơn 40.000 giờ phim. Doanh thu quảng cáo trong phim nói riêng và các chương trình khác của một số đài TH trung bình ở mức trên 1.000 tỷ đồng. Với nguồn thu này đã giúp nhiều đài có thể tự chủ đến 50 - 70% ngân sách hoạt động.

3.1.4. XHH - cơ hội để các đối tác thể hiện năng lực và sự đóng góp với xã hội

Từ năm 2008 đến nay, cả nước có gần 100 doanh nghiệp truyền thông phối hợp thường xuyên với các đài trong sản xuất chương trình truyền hình, mỗi năm cung cấp hàng trăm đầu mục chương trình với hàng chục nghìn giờ sóng phục vụ nhu cầu đa dạng của đông đảo công chúng cả nước. Để có số lượng, thời lượng chương trình lớn như vậy - đó là sự đóng góp rất lớn về nhân lực, kỹ thuật và đặc biệt là nguồn tài chính của đối tác.

3.1.5. XHH - khán giả có nhiều cơ hội lựa chọn chương trình phù hợp

Hiện ở Việt Nam, truyền hình đã phủ sóng toàn quốc. Trung bình hơn 80% dân số xem được chương trình của Đài THVN và đài của địa phương mình. Đến năm 2011, cả nước đã có gần 150 kênh sản xuất nội địa (quảng bá và trả tiền) phát sóng hàng ngày với thời lượng trung bình là 18h/ngày/kênh, có kênh 24/24h với hàng ngàn đầu mục chương trình. 61.8% số khán giả được hỏi cho rằng số lượng kênh chương trình hiện nay phong phú. Điều này đã giúp cho họ có nhiều cơ hội thu thập thông tin, mở rộng hiểu biết về mọi mặt đời sống xã hội.

3.1.6. XHH - nhiều chương trình truyền hình mang tính nhân văn khởi sắc

 Mỗi năm, hàng nghìn tỷ đồng đã được trích từ nguồn quỹ tài trợ, nguồn quảng cáo thu được từ nhiều chương trình thực hiện theo hình thức XHH, để hỗ trợ cho những người bệnh tật, có hoàn cảnh khó khăn, có ý thức vươn lên trong cuộc sống. Chương trình “Lục lạc vàng” (VTV1); “Vượt lên chính mình” đài PTTH Nghệ An; “Vì ngày mai tươi sáng” (HTV9)... là những ví dụ.

3.2. Hạn chế của hoạt động XHH sản xuất chương trình TH

3.2.1. Hoạt động XHH phát triển phân tán và tự phát

- Hoạt động XHH phát triển chưa đồng đều - nhiều thị trường còn bỏ ngỏ

 Hoạt động XHH phát triển mạnh ở những đài TH lớn như Đài THVN, Đài TH kỹ thuật số VTC, Đài TH TP. Hồ Chí Minh, Đài PTTH Hà Nội, còn các đài ở địa phương phát triển còn chậm, chưa bài bản. Số lượng các đối tác hợp tác với các đài rất ít, trung bình chỉ dưới 10 công ty bằng 1/5 so với VTV và HTV.

- Một số chương trình và một số kênh phát triển tự phát vượt tầm kiểm soát

Theo thống kê từ Bộ TT &TT từ năm 2009 đến 2011 mới chỉ có 4 đài đó là Đài THVN, Đài TH TP. Hồ Chí Minh, Đài TH kỹ thuật số VTC và Đài PTTH Hậu Giang có đăng kí kênh liên kết và chương trình liên kết với Bộ. Còn lại các đài khác hiện đã, đang tồn tại hoạt động này nhưng chưa thực hiện việc đăng kí.

3.2.2. Chưa có nhiều chương trình và kênh chương trình có bản sắc

Không ít chương trình, kênh chương trình thực hiện theo hình thức XHH có nội dung và cách thức thể hiện trùng lặp, chưa tạo được dấu ấn. 29.2% khán giả được hỏi cho rằng các chương trình hiện nay bình thường. 24.5% khán giả chưa hài lòng với các chương trình. Theo họ, có nhiều lí do, nhưng lí do quan trọng nhất truyền hình chưa hấp dẫn họ bởi cách thức thể hiện khuôn mẫu, thiếu bản sắc.

3.2.3. Chất lượng một số chương trình chưa chuyên nghiệp

Hiện nay, dạng chương trình được khán giả lựa chọn xem thường xuyên nhất là chương trình giải trí, chiếm 54.3%. Trong đó, thể loại phim truyền hình được khán giả xem nhiều nhất. Tuy nhiên, chỉ có 19.5% khán giả hài lòng với những bộ phim đã xem; 35.8% cho rằng chưa thật sự hài lòng. Theo họ, lí do chính của kết quả này do đề tài phim chưa đa dạng, nội dung chưa thật thực tế. Có không ít bộ phim bị phản đối kịch liệt. Ví dụ như bộ phim: “Anh chàng vượt thời gian”, “Xin thề anh nói thật” (VTV1)...

3.2.4. Xuất hiện một số biểu hiện thương mại hóa theo hướng tiêu cực

 - Tỷ lệ dạng chương trình chưa cân đối, còn chạy theo thị hiếu

 - Quảng cáo, tài trợ chi phối việc sản xuất chương trình và hoạt động của một số đài

 - Phụ thuộc nhiều vào nguồn tài chính bên ngoài, bị động về chương trình, khó kiểm soát về chất lượng.

3.2.5. Ảnh hưởng đến sự ổn định của đội ngũ cán bộ, phóng viên

 Sự xáo trộn nhân sự diễn ra cả đài truyền hình lẫn phía các đối tác.

Khi có sự tham gia của lực lượng xã hội vào hoạt động sản xuất đồng nghĩa lao động cố định trước kia của các đài sẽ bị chia sẻ công việc, điều này đòi hỏi phía đài cần có sự cấu trúc lại nhân sự: nhân sự sản xuất, nhân sự quản lí. Còn về phía đối tác, nhân lực đã mỏng nhưng tâm lí thường không ổn định hay tìm cách chuyển công việc sang các công ty truyền thông có sự đãi ngộ tốt hơn. Sự thay đổi về nhân sự như vậy đã khiến hoạt động của đài TH cũng như đối tác gặp không ít xáo trộn.

3.2.6. Có hiện tượng lãng phí trong sản xuất chương trình

 Khi càng có nhiều kênh truyền hình đồng nghĩa với việc công chúng càng có nhiều cơ hội để lựa chọn kênh với những chương trình mình thích. Hiện tượng chuyển kênh, dò tìm những chương trình thú vị, phù hợp nhu cầu của mỗi khán giả xuất hiện. Chính vì vậy, số lượng khán giả trước kia vốn chỉ của một kênh nay bị chia nhỏ (phân khúc) cho nhiều kênh khác nữa. Qua khảo sát thấy: có kênh, có chương trình chỉ có khoảng chục người, thậm chí có kênh chẳng có chương trình nào khán giả nhắc tới. Sự lãng phí này không chỉ là về tần số sóng mà cùng với đó là tiền của, nhân lực, chất xám của đội ngũ tác nghiệp. 

3.2.7. Sức bền, sự cạnh tranh trong hoạt động XHH chưa cao

 Có một số đối tác sau một thời gian cố gắng nhưng không thể trụ được trước áp lực về sản xuất, về tài chính đã rút lui hoặc chuyển nhượng chương trình cho đối tác khác hay chỉ tham gia một phần nhỏ công việc.

 Số đơn vị đối tác tham gia sản xuất chương trình với các đài từ năm 2008 đến 2011 thường xuyên nhất chỉ có khoảng 50 đơn vị. Trong khi đó, hiện nay, ở Việt Nam có gần 150 kênh chương trình sản xuất nội địa. Như vậy, trung bình cứ hơn hai kênh truyền hình mới chỉ có một đối tác hợp tác. Cơ hội để đài TH lựa chọn được những chương trình hay từ đối tác rất ít vì không có nhiều đối tác để cạnh tranh, lựa chọn.

3.2.8. Xuất hiện hiện tượng buông lỏng quản lí nội dung

Điều này thể hiện ở việc tần số, mức độ xuất hiện các lỗi trong các chương trình phát sóng còn nhiều; một số đài để các đối tác can thiệp, thậm chí quyết định nội dung phát sóng làm ảnh hưởng tiêu cực đến tính định hướng của nội dung thông tin.

3.3. Nguyên nhân của hạn chế và vấn đề đặt ra trong hoạt động XHH sản xuất chương trình TH ở Việt Nam hiện nay

3.3.1. Quan điểm và nhận thức về hoạt động XHH của các bên tham gia chưa thống nhất

 Thứ nhất: mâu thuẫn về mục đích hợp tác: Mâu thuẫn giữa nhiệm vụ tư tưởng, chính trị và lợi ích kinh tế.

 Thứ hai: nhận thức chưa hết về bản chất, khó khăn, thách thức của hoạt động XHH

3.3.2. Thiếu những định hướng và quy hoạch đồng bộ, cụ thể

 Ngày 24/3/2011, Thủ tướng Chính Phủ đã kí quyết định số 20/2011/QĐ - TTG về việc Ban hành quy chế quản lí hoạt động trả tiền; ngày 1/3/2011, Bộ TT&TT đã kí thông tư số 7/2011 quy định chi tiết và hướng dẫn cấp giấy phép hoạt động báo chí trong lĩnh vực phát thanh truyền hình. Tuy nhiên, để hoạt động này hiệu quả, tránh lãng phí, dàn trải cần có thêm những quy định hợp lí, cụ thể về chiến lược phát triển truyền hình nói chung, XHH truyền hình nói riêng...

3.3.3. Năng lực sản xuất của đối tác chưa đều và chưa chuyên nghiệp

 Nhân lực và tài chính là những yếu tố then chốt quyết định chất lượng, tiến độ hợp tác của đối tác. Những hạn chế trong quá trình XHH trong thời gian qua một phần do đối tác thiếu chủ động về tài chính, phụ thuộc nhiều vào nhà tài trợ. Mặt khác, nhân lực thực hiện chương trình mỏng và chưa chuyên nghiệp.

3.3.4. Năng lực, trình độ quản lí còn bất cập

 - Về phía đài truyền hình: vấn đề đặt bài đối tác, nghiệm thu chương trình XHH ở một số đài còn chưa chặt chẽ, đảm bảo chất lượng do khối lượng công việc quá lớn mà nhân lực đầu mối còn mỏng.

 - Về phía đối tác: khó khăn, hạn chế chủ yếu là về mặt quản lí nhân sự và vốn. Mỗi năm với đối tác tham gia sản xuất chương trình cho cả kênh, phải đầu tư khoản vốn trung bình lên tới 20 đến 30 tỉ đồng. Không ít đối tác “làm ăn” chưa có lãi.

3.3.5. Cơ chế, chính sách chưa phù hợp

 - Thông tư 19 của Bộ TT&TT đã có những hướng dẫn cho hoạt động liên kết, hợp tác, tuy nhiên, một số điều chưa được đề cập rõ bởi vậy các đài TH còn “mắc” khi muốn mở rộng phối hợp sản xuất chương trình.

 - Luật báo chí sửa đổi 1999, khẳng định nguyên tắc, Việt Nam không có báo chí tư nhân. Báo chí là cơ quan ngôn luận của Đảng, Nhà nước, tổ chức đoàn thể, diễn đàn của nhân dân. Nhưng khi thực tế diễn ra hoạt động phối hợp làm ra sản phẩm báo chí nói chung, sản phẩm truyền hình nói riêng thì một số những quy định của luật trong thời điểm hiện nay chưa bao quát hết khiến hoạt động này còn những hạn chế, phát triển chưa như mong muốn.

3.3.6. Chưa có hình thức thăm dò ý kiến khán giả thường xuyên và phù hợp

 Giá cả việc mua kết quả khảo sát, đánh giá thị trường từ các công ty nghiên cứu thị trường hiện nay rất đắt, vì vậy không phải đài TH nào cũng sẵn sàng đầu tư một khoản kinh phí cho việc này. Mặt khác, bản thân mỗi đài cũng chưa có nhiều cách điều tra phù hợp nên để duy trì cũng như có chương trình phát sóng, việc ra đề bài, đặt hàng sản xuất chương trình nhiều lúc còn theo cảm nhận chủ quan.

 Tiểu kết chương 3: Qua việc khảo sát trực tiếp hoạt động của các đài TH đại diện ở trung ương và địa phương thấy rằng hoạt động XHH sản xuất chương trình đang hiện hữu và phát triển ngày càng sôi động ở Việt Nam. So với hoạt động sản xuất truyền thống, hoạt động này đã đem lại nhiều kết quả cũng như lợi ích tích cực cho tất cả các bên.Tuy nhiên, hoạt động này cũng còn bộc lộ không ít hạn chế, điều này đã tác động không như mong muốn vào quá trình phát triển của các đài TH. Thực tế này, đặt ra cho các đơn vị đã, đang, sắp tham gia vào tiến trình XHH những vấn đề cần nhận thức và giải quyết. Trong đó, việc cần phải nhận thức rõ ràng về hoạt động XHH (ưu, nhược điểm, tác động tích cực, tiêu cực của hoạt động này) - đây là khâu then chốt quyết định hành động đúng của mỗi đơn vị khi thực hiện XHH. Cùng với đó, việc cần có cơ chế, cách thức quản lí khoa học, phù hợp có vai trò đặc biệt quan trọng - đây là kim chỉ nam định hướng sự phát triển sản phẩm, định hướng nhận thức của xã hội.

Chương 4

DỰ BÁO SỰ PHÁT TRIỂN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP

NHẰM PHÁT HUY HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI HÓA SẢN XUẤT

CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH Ở VIỆT NAM THỜI GIAN TỚI

4.1. Dự báo sự phát triển hoạt động XHH sản xuất chương trình TH ở Việt Nam trong thời gian tới

4.1.1. Xu hướng phát triển hoạt động XHH

4.1.1.1. Hoạt động XHH sản xuất chương trình tiếp tục phát triển mạnh mẽ

 Công ty CP truyền thông Trí Việt (TMV) điều tra, phân tích thị trường truyền hình đã đưa ra dự báo một vài năm tiếp theo, khả năng thời lượng sản xuất chương trình mới của một số đài TH hiện nay chỉ có thể đáp ứng được khoảng ¼ so với nhu cầu (kết quả khảo sát 40 kênh có doanh số và khả năng sản xuất (nhân lực, tài chính, kỹ thuật) lớn nhất/100 kênh truyền hình bao gồm cả truyền hình trả tiền và truyền hình quảng bá). Ngoài ra, trong quy hoạch truyền dẫn, phát sóng phát thanh, truyền hình đến năm 2020, dự báo từ nay đến năm 2020, ngành truyền hình ở Việt Nam sẽ phát triển mạnh mẽ về hạ tầng truyền dẫn. Đi cùng với sự thay đổi này là đòi hỏi hoạt động nội dung phát trên hạ tầng này cũng phải phát triển đồng bộ về số lượng cũng như chất lượng. Đây là cơ hội để hoạt động XHH phát triển.

4.1.1.2. Hoạt động XHH mở rộng quy mô và phương thức thực hiện

 Hoạt động XHH không chỉ phát triển rầm rộ trên hệ thống truyền hình quảng bá mà còn phát triển mạnh mẽ trên khu vực truyền hình trả tiền. Hoạt động này không dừng ở qui mô nhỏ lẻ ở một số chương trình hay một số khung giờ nhất định như thời gian qua mà dự báo số lượng những kênh có đối tác tham gia sản xuất chương trình cho cả kênh sẽ tăng bởi nhiều đối tác thực lực ngày càng mạnh và nhu cầu, nhận thức về ưu điểm hình thức XHH này ngày càng rõ ràng. Có 45.7% đối tác được hỏi cho rằng: họ thích hình thức XHH sản xuất chương trình cho cả kênh vì với hình thức này họ được chủ động nhiều hơn...

4.1.1.3. Việc sản xuất các chương trình giải trí và tin tức vẫn chiếm tỉ trọng lớn

 Thống kê, phân tích số liệu của TNS Media từ 2007 đến 2011 và so sánh với khảo sát của TVM - Công ty CP truyền thông Trí Việt cùng kết quả thăm dò điều tra cá nhân trong 800 phiếu đại diện 4 thành phố lớn ở Việt Nam, tỉ lệ các chương trình giải trí (phim) và tin tức là hai dạng chương trình được khán giả quan tâm nhiều và thường xuyên nhất.

4.1.1.4. Việc sản xuất các chương trình truyền hình dần theo hướng chuyên môn hóa và chuyên biệt hóa

 Trên cơ sở khảo sát cho thấy về lâu dài có thể dự báo ở một số lĩnh vực, đài truyền hình sẽ dần chuyển sang chuyên lo ý tưởng, định hướng, sản xuất một số chương trình ở những lĩnh vực khó và duyệt còn đối tác đảm nhiệm những chương trình giải trí hoặc những chương trình đơn giản. 

79.9% khán giả được hỏi cho rằng: thông tin chuyên biệt dễ theo dõi và có chiều sâu, không phải chờ lâu và mất thời gian tìm kiếm. Họ mong muốn thời gian tới có nhiều những chuyên biệt với những thông tin phân tích chuyên sâu.

4.1.1.5. Các chương trình thuần Việt từng bước cạnh tranh với các chương trình nước ngoài

 Từ khi có Luật điện ảnh sửa đổi chính thức có hiệu lực với quy định: phim Việt Nam chiếm ít nhất 30% tổng thời lượng. Từ đây, số lượng phim Việt được sản xuất tăng hơn rất nhiều so với trước. Không ít phim XHH được khán giả mến mộ. Cùng với phim Việt, nhiều chương trình trò chơi và các chuyên mục thuần Việt cũng đã xuất hiện và ngày càng phát triển và có những vị trí nhất định trên sóng truyền hình.

4.1.1.6. Hoạt động XHH diễn biến phức tạp, khó kiểm soát

 Trong một vài năm tới, nhu cầu giải trí nói riêng và nhu cầu thông tin từ truyền hình nói chung vẫn luôn là lựa chọn hàng đầu với công chúng. Việc tăng số lượng kênh cũng như tăng số lượng chương trình là tất yếu. Đi cùng với sự gia tăng này, là sự phát triển mạnh mẽ hoạt động XHH sản xuất. Nếu vẫn duy trì hành lang pháp lí, đội ngũ cán bộ quản lí chưa xứng tầm nhất là về số lượng như hiện nay sẽ khó khăn để có được các chương trình hấp dẫn hơn nữa phục vụ khán giả.

4.1.1.7. Đối tác có xu hướng biến đổi mô hình hoạt động

 Sự phát triển ồ ạt của các nhà đầu tư, các công ty truyền thông báo hiệu sự trỗi dậy của thị trường truyền hình. Nhưng bên cạnh sự phát triển rầm rộ này là sự khắc nghiệt của thị trường với những áp lực khiến không ít doanh nghiệp truyền thông hoạt động không hiệu quả, thiếu bản sắc phải nhanh chóng thay đổi định hướng hoạt động để phù hợp với thực tiễn và khả năng của mình.

4.1.2. Cơ hội và thách thức của các đơn vị trước sự phát triển hoạt động XHH

4.1.2.1. Cơ hội với các đài truyền hình: Cơ hội phục vụ công chúng nhiều và tốt hơn; Cơ hội khẳng định vị thế; Cơ hội khai thác các nguồn lực đang có và sắp có; Cơ hội hội nhập sâu, rộng hơn với truyền hình thế giới…

4.1.2.2. Cơ hội với các đối tác của đài truyền hình: Cơ hội thể hiện năng lực, xây dựng hình ảnh; Cơ hội phát triển nguồn lợi kinh tế…

 4.1.2.3. Thách thức với các đài truyền hình: Thách thức trong việc giải quyết mối quan hệ lợi ích (lợi ích chính trị và lợi ích kinh tế); Thách thức trong quản lí nội dung chương trình XHH; Thách thức trước bài toán cân đối nhân sự…

4.1.2.4. Thách thức với các đối tác:Thách thức trước áp lực cạnh tranh ngày càng lớn; Thách thức về khai thác, phát triển nguồn nhân lực; Thách thức trước vấn đề bảo toàn và phát triển nguồn vốn… 

4.2. Một số giải pháp nhằm phát triển hoạt động XHH sản xuất chương trình TH ở Việt Nam thời gian tới

       Các giải pháp chúng tôi đưa ra được sắp xếp theo logic: Nhận thức – Chính sách cụ thể - Quản lí Nhà nước – Tăng cường nguồn lực.

4.2.1. Thống nhất, nâng cao nhận thức về hoạt động XHH

XHH sản xuất chương trình truyền hình ở Việt Nam là tất yếu, phù hợp với quy luật phát triển; XHH đem lại lợi ích thiết thực nhiều mặt cho các bên tham gia. Tuy nhiên, bên cạnh đó, XHH còn luôn tiềm ẩn những thách thức. Việc nhận thức rõ mối quan hệ giữa tính định hướng chính trị và lợi ích kinh tế, sự chi phối của kinh tế với hoạt động truyền thông rất quan trọng quyết định sự tồn tại đúng định hướng hay lạc hướng của một kênh hay một đài truyền hình

4.2.2. Quán triệt nguyên tắc: nhiều đối tượng cùng tham gia sản xuất nhưng chỉ có một cơ quan quản lí trực tiếp nội dung là đài truyền hình

 Quán triệt nguyên tắc thống nhất trong quản lí để đảm bảo quyền lợi chính trị (tính định hướng), quyền lợi văn hóa - quyền lợi của khán giả xem truyền hình (được tiếp cận thông tin, tri thức mới đúng định hướng có giá trị nâng cao nhận thức, đời sống tinh thần phong phú lành mạnh của công chúng).

4.2..3. Tiếp tục phát triển hệ thống đối tác nhưng theo hướng mở rộng thêm đối tượng tham gia phải khoanh vùng mức độ thực hiện

Mở rộng đối tác tham gia sản xuất chương trình nhằm có nhiều hơn nữa thông tin đa dạng phục vụ công chúng, giảm tải gánh nặng về nhân lực, tài chính cho các đài là một công việc đáng làm nhưng mức độ như thế nào, mỗi đài cần hết sức cân nhắc. Điều này phụ thuộc vào năng lực, thế mạnh, hạn chế của bản thân, cùng việc nắm bắt, xử lí cơ hội, thách thức bên ngoài tác động vào mỗi đài. XHH một phần việc điều tiết, quản lí sẽ chủ động và thuận lợi. XHH sản xuất chương trình cho cả kênh - công việc sẽ dễ theo một hướng khác, dễ bị chi phối nhiều bởi lợi ích kinh tế, khó kiểm soát. Hiện nay, mới có cơ chế hợp tác với đối tác là các “tổ chức có tư cách pháp nhân”. Về lâu dài, nên xem xét và có chính sách cụ thể để mở rộng việc hợp tác, sử dụng sản phẩm của những cá nhân có khả năng, nhu cầu trong xã hội. 

4.2.4. Xây dựng quy hoạch và lộ trình XHH

 Điều này được tiến hành một cách nghiêm túc, khoa học không chỉ góp phần bình ổn hoạt động truyền hình nói chung, hoạt động XHH nói riêng mà còn giúp cho các chương trình, kênh chương trình ra đời, phát triển hiệu quả tránh được sự lãng phí.

Cùng với nhiều cơ sở để xây dựng quy trình và lộ trình XHH, mỗi đơn vị liên quan có thể tham khảo thêm phương pháp phân tích SWOT để phân tích tình hình, tìm ra cơ hội để hoạch định công việc hợp tác cùng phát triển.

4.2.5. Cần có kế hoạch cũng như phương pháp thanh kiểm tra hợp lí

Xây dựng chính sách và tổ chức thực thi là hai lĩnh vực riêng biệt nhưng có mối quan hệ chặt chẽ. Thực thi không đúng, một chính sách dù tốt mấy cũng khó đi vào cuộc sống. Có chính sách tốt và việc thực thi đúng mới có hiệu quả cao. Vậy nên, để XHH sản xuất chương trình truyền hình phát triển theo đúng nguyên tắc, đúng định hướng tuyên truyền thì các cơ quan quản lí ngoài việc xây dựng và ban hành chính sách còn cần phải liên tục thanh kiểm tra và xử lí sai phạm nếu có.

 4.2.6. Thường xuyên nghiên cứu nhu cầu của công chúng và điều kiện của bên đối tác

 Trên cơ sở khảo sát, nghiên cứu có thể biết nhu cầu xem chương trình của khán giả cũng như khả năng của mỗi bên từ đó sẽ hoạch định chính sách, xây dựng kế hoạch tuyên truyền, hợp tác hợp lí, hiệu quả.

4.2.7. Hoàn thiện cơ chế, chính sách, hành lang pháp lí cho hoạt động XHH

 Để hoạt động XHH sản xuất chương trình truyền hình hiệu quả, đúng định hướng nên có những quy định cụ thể trong văn bản pháp lí cao hơn (so với các văn bản hiện nay) – đó là Luật báo chí. Những quy định đưa ra cần tạo hành lang pháp lí thông thoáng nhưng đảm bảo chặt chẽ, thực tế, theo đúng quan điểm phát triển gắn với quản lí.

4.2.8. Đào tạo và phát triển nguồn lực

 Công việc này phải được đài cũng như đối tác tiến hành thường xuyên, bài bản và xác định đây là một trong những khâu then chốt quyết định tới chất lượng chương trình có như vậy mới xây dựng được đội ngũ cán bộ, phóng viên, cộng tác viên có đủ trình độ, đạo đức với kỹ năng chuyên nghiệp để quản lí và tác nghiệp một cách chuyên nghiệp.

4.2.9. Tăng cường đầu tư mọi mặt để nâng cao vai trò chủ đạo, nòng cốt của các đài truyền hình trong quá trình XHH

 Nhận thức và thực hiện tốt điều này sẽ tạo điều kiện để các đài không phải phân tâm quá nhiều trong việc “cân đong” giữa nhiệm vụ chính trị và lợi ích kinh tế, để các đài TH trở thành những “đầu tầu” đủ công suất “lôi kéo” cả xã hội cùng tham gia - đi đúng hướng.

4.3. Một số kinh nghiệm và kiến nghị cụ thể với các đài khi thực hiện XHH sản xuất chương trình TH

 4.3.1. Cần có cơ chế khai thác, khuyến khích phù hợp với các loại đối tác - đặc biệt với đội ngũ “nhà báo công dân” - các cá thể trong xã hội

Đây là đối tượng hiện ít được các đài quan tâm nhưng thực tế có thể đem tới nhiều chất liệu, nhiều sự kiện hấp dẫn mang giá trị thông tin cao được thực hiện bằng phương tiện cá nhân.

 4.3.2. Cần lập kế hoạch sử dụng nguồn lực xã hội một cách khoa học, hợp lí để hoạt động XHH ở mỗi đài truyền hình mang tính chủ động và hiệu quả

 

 Tiểu kết chương 4: Với cơ sở lí luận trình bày ở chương 1 và thông qua các kết quả khảo sát ở chương 2 và 3 kết hợp với nghiên cứu thực tiễn phát triển kinh tế, xã hội và truyền thông ở Việt Nam hiện nay, trong chương 4, tác giả luận án đã khái quát, dự báo xu hướng phát triển tiếp theo của hoạt động XHH và đưa ra những giải pháp cụ thể nhằm kiến nghị các cơ quan liên quan xây dựng cơ chế, chính sách, xây dựng kế hoạch hợp lý nhằm phát huy hiệu quả hoạt động XHH ở Việt Nam thời gian tới.

KẾT LUẬN

XHH sản xuất chương trình truyền hình ở Việt Nam hiện nay đang là một vấn đề lớn không chỉ các cơ quan quản lí nhà nước, các đài TH quan tâm mà còn là đối tượng nghiên cứu của nhiều đơn vị, doanh nghiệp, cá nhân trong xã hội. Bởi đây là một hoạt động đem lại nhiều lợi ích hấp dẫn cho những người tham gia. Tuy nhiên, quá trình phát triển và quản lí hoạt động XHH ở Việt Nam hiện nay đã nảy sinh nhiều điểm bất cập đòi hỏi phải có những giải pháp cụ thể, thiết thực để giải tỏa nhằm khai thác, phát huy tối đa hiệu quả của hình thức sản xuất này.

Với nội dung chủ yếu gồm 4 chương (16 tiết), luận án đã hoàn thành được mục đích và những nhiệm vụ đặt ra, kết quả cụ thể như sau:

 1. Tác giả đã khái quát và làm rõ về mặt lí luận những vấn đề liên quan đến hoạt động XHH sản xuất chương trình truyền hình: từ khái niệm về XHH, những yếu tố thúc đẩy sự xuất hiện của hoạt động này, đến việc phân tích ưu, nhược điểm, mức độ tham gia của xã hội vào hoạt động làm nên sản phẩm truyền hình. Đặc biệt, luận án đã chỉ ra được những yêu cầu, điều kiện cần thiết để hoạt động XHH phát triển mạnh mẽ nhưng lành mạnh, đúng định hướng.

 2. Phần khảo sát cụ thể, chi tiết, toàn diện về hoạt động XHH sản xuất chương trình truyền hình ở Việt Nam hiện nay đã được thực hiện thông qua việc khảo sát ở 12 đài đại diện cho các cấp trung ương, địa phương; các đài ở đại diện ba khu vực trong cả nước. Từ những kết quả thu được thông qua tổng hợp số liệu, với 5 mục ở chương 2, luận án đã cung cấp một bức tranh khá toàn diện về hoạt động này từ khâu tổ chức sản xuất đến tổ chức quản lí ở các đài TH ở Việt Nam hiện nay.

 - Tác giả thấy rằng, hoạt động XHH sản xuất chương trình truyền hình là xu hướng phát triển tất yếu ở Việt Nam, nhằm thúc đẩy sự phát triển sâu, rộng cả về chất và lượng của ngành truyền hình. Hoạt động XHH xuất hiện sớm, từ khi truyền hình mới phát triển. Tuy nhiên, hoạt động này chỉ thực sự được đặc biệt quan tâm từ khi các đài truyền hình bước vào cơ chế tự chủ về tài chính và khi chức năng kinh doanh của các đài được phát huy.

- Hiện, hoạt động XHH phát triển rộng khắp ở hầu hết các đài trên cả nước, nhưng mạnh mẽ nhất là ở những đài TH đóng trên những địa bàn có điều kiện kinh tế, dân trí phát triển, dân cư đông đúc. Hoạt động XHH không chỉ phát triển ở hệ thống truyền hình quảng bá mà còn phát triển nhanh ở hệ thống truyền hình trả tiền với nhiều hình thức tham gia khác nhau. Qua khảo sát, luận án cũng cho thấy đối tượng tham gia làm nên sản phẩm truyền hình phát sóng ở các đài rất phong phú. Tuy nhiên, tham gia tích cực nhất chỉ có khoảng hơn 50 công ty truyền thông trên hàng nghìn công ty trên cả nước. Sự tham gia của của các đơn vị, cá nhân khác cũng bắt đầu xuất hiện nhưng còn mờ nhạt.

 - Các đối tác đã đầu tư mọi nguồn lực để sản xuất nhiều chương trình với nội dung đa dạng, hấp dẫn. Từ các chương trình giải trí, văn hóa, xã hội, khoa học giáo dục đến những chương trình tin tức thời sự. Nhưng trong số đó, số lượng những chương trình giải trí chiếm tỷ trọng lớn và hình thức thể hiện cũng phong phú hơn rất nhiều so với cách thức sản xuất chương trình truyền thống. Nhiều kênh truyền hình chuyên biệt sản xuất theo hình thức XHH đã ra đời phát triển mạnh mẽ. Không ít trong số đó đã để lại ấn tượng tốt trong khán giả.

 - Cùng với việc chỉ ra thực trạng tổ chức sản xuất chương trình truyền hình theo hình thức XHH. Luận án cũng đã chỉ rõ thực trạng tổ chức, quản lí hoạt động sản xuất này ở các đài TH ở Việt Nam. Hiện nay, cơ cấu, cấu trúc bộ máy thẩm duyệt ở các đài TH trên cả nước về cơ bản theo một quy trình chung tương đối chặt chẽ với trung bình ba đầu mối: cấp phòng, cấp Ban và cấp Đài. Tuy nhiên, để hoạt động này đúng định hướng và hiệu quả, qua khảo sát cũng thấy rằng trước những biến động của thực tế không ít đài đã nghiêm túc, đầu tư nghiên cứu và bổ sung kịp thời những quy chế cho hoạt động này.

 3. Trên cơ sở khái quát thực trạng về hoạt động XHH sản xuất chương trình truyền hình ở Việt Nam hiện nay, kết hợp với phỏng vấn sâu 25 lãnh đạo quản lí của các cơ quan quản lí nhà nước và của các Đài; 10 cán bộ lãnh đạo của các Công ty truyền thông đang tham gia hợp tác sản xuất chương trình với các đài trên phạm vi cả nước, cùng với việc phát phiếu thăm dò ý kiến của 800 khán giả đại diện cho 4 khu vực trên cả nước, luận án đã chỉ ra những thành công, hạn chế, hiệu quả của hoạt động này hiện nay.

Thực tiễn thời gian qua đã khẳng định: hoạt động XHH đã làm phong phú thêm chương trình đáp ứng nhu cầu đa dạng của công chúng hiện đại. XHH giúp các đài huy động được nhiều nguồn lực trong xã hội từ đó giảm tải gánh nặng trong sản xuất chương trình của các đài. Tuy nhiên, cùng với thành công đó, XHH cũng đã làm xuất hiện nhiều mặt hạn chế, nhiều vấn đề cần nghiên cứu giải quyết sớm. Đó là sự phát triển rầm rộ nhưng thiếu bản sắc của không ít chương trình; sự xáo trộn trong nhân sự. XHH cũng làm xuất hiện những biểu hiện mang tính thương mại. Lợi ích kinh tế đã len lỏi, tác động vào hoạt động sản xuất khiến cho chất lượng một số chương trình chưa như mong mỏi... Dưới các góc độ khác nhau, luận án đã chỉ ra 6 nguyên nhân chính dẫn tới hoạt động XHH hiện nay chưa thực sự hiệu quả.

 4. Trên cơ sở phân tích thực tiễn hoạt động XHH, thông qua đội ngũ chuyên gia là những lãnh đạo quản lí các đài TH, các đơn vị truyền thông lớn của cả nước, tất cả được đặt trong tổng thể sự vận hành mọi mặt của truyền thông, của sự phát triển kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước, luận án đã dự báo những xu hướng phát triển hoạt động này ở Việt Nam trong thời gian tới đồng thời chỉ ra cơ hội cũng như thách thức mà các đơn vị tham gia hoạt động XHH sẽ nhận được cũng như phải đối mặt.

Từ thực trạng, cùng những dự báo đó, luận án đã đưa ra 9 giải pháp chủ yếu và một số kinh nghiệm cụ thể nhằm góp phần giúp hoạt động XHH ở Việt Nam phát triển hiệu quả hơn. Các giải pháp đưa ra về cơ bản bám sát những ưu, nhược điểm rút ra qua việc khảo sát và phân tích thực tiễn nên có tính ứng dụng. Các giải pháp  được triển khai theo các hướng chính: nâng cao nhận thức, ý trách nhiệm của các cá nhân, đơn vị khi tham gia, thực hiện hoạt động XHH; hoàn thiện cơ chế, chính sách theo hướng thực tế, đồng bộ, chặt chẽ để hoạt động XHH hiệu quả, dung hòa được lợi ích của các bên... Bên cạnh đó, việc cán bộ, phóng viên của đài TH cũng như các đối tác cần liên tục được đào tạo, rèn luyện, nâng cao khả năng tác nghiệp, trình độ quản lí có vai trò then chốt quyết định chất lượng hoạt động XHH, đáp ứng tốt nhiệm vụ thông tin, tuyên truyền mà Đảng, Nhà nước và xã hội giao phó.

5. Hướng nghiên cứu chủ yếu luận án chỉ tập trung vào hoạt động XHH ở những sản phẩm được sản xuất trong nước (nội địa) - bởi, điều kiện nghiên cứu có hạn, mặt khác hiện nay đây là khu vực đang có nhiều diễn biến phức tạp nhất. Tuy nhiên, trên cơ sở nghiên cứu đề tài: “Vấn đề xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình ở Việt Nam hiện nay”, tác giả luận án nhận thấy trong tương lai đề tài này có thể phát triển theo các hướng sau: (1) Nghiên cứu vấn đề XHH sản xuất chương trình chuyên sâu ở từng nhóm thể loại. (2) Nghiên cứu sâu về ưu và nhược điểm của từng hình thức XHH sản xuất chương trình truyền hình. (3) Nghiên cứu về hoạt động XHH sản xuất chương trình ở từng khu vực (truyền hình trả tiền hoặc khu vực truyền hình quảng bá)...

6. Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu, tác giả luận án đã cố gắng đề cập một cách toàn diện những vấn đề mà đề tài đặt ra. Tuy nhiên, do phạm vi nghiên cứu rộng nhưng thời gian nghiên cứu ngắn, quy mô chọn mẫu chưa nhiều, luận án chắc không tránh khỏi những khiếm khuyết nhất định. Với tinh thần cầu thị, tác giả luận án xin tiếp thu mọi ý kiến đóng góp và phê bình hợp lí.

                      

   Tác giả xin trân trọng cảm ơn!