Đấu tranh, phản bác các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận vai trò của kinh tế nhà nước, tuyệt đối hóa vai trò của kinh tế tư nhân

    11/06/2020 07:48 AM


    Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là nền kinh tế nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là động lực quan trọng. Tuy nhiên, các thế lực thù địch đã vin vào những yếu kém, khiếm khuyết của kinh tế nhà nước, doanh nghiệp nhà nước, cho rằng: kinh tế nhà nước không thể giữ vai trò chủ đạo, mà vai trò đó thuộc về kinh tế tư nhân, đòi tư nhân hóa nền kinh tế, nhẹ hơn là nên bỏ cụm từ “kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo’’. Xem xét một cách khách quan, khoa học, đó là điều không thể.

    1. Không thể phủ nhận vai trò của kinh tế nhà nước và tuyệt đối hóa kinh tế tư nhân

    Không thể phủ nhận vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước

    Hiện nay, nền kinh tế Việt Nam có nhiều thành phần kinh tế, chế độ và hình thức sở hữu. Song, sở hữu nhà nước và kinh tế nhà nước, trong đó doanh nghiệp nhà nước là “nòng cốt”, giữ vai trò chủ đạo, là một trong các yếu tố quan trọng bảo đảm cho nền kinh tế thị trường Việt Nam phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Điều này được khẳng định tại khoản 1 Điều 51, Hiến pháp năm 2013(1) là hoàn toàn phù hợp với lý luận và thực tiễn nước ta.

    Theo quan niệm hiện nay, kinh tế nhà nước được cấu thành từ 2 bộ phận: (1) bộ phận doanh nghiệp, gồm các doanh nghiệp mà Nhà nước sở hữu 100% vốn và doanh nghiệp mà Nhà nước nắm cổ phần hoặc phần vốn chi phối: (2) bộ phận phi doanh nghiệp (hữu hình và vô hình hay vật chất và phi vật chất), như: các tư liệu sản xuất, kết cấu hạ tầng kinh tế, kỹ thuật, xã hội; vùng trời, vùng biển, đất đai và tài sản gắn liền với đất, tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên internet, phổ tần vô tuyến điện, ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, các quỹ tài chính ngoài ngân sách nhà nước... Với phạm vi rộng lớn như vậy, kinh tế nhà nước giữ vị trí trọng yếu, vai trò chủ đạo trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, tạo nền tảng cơ bản để phát triển các ngành, lĩnh vực, thành phần kinh tế và loại hình doanh nghiệp.

    Trong cơ cấu kinh tế nhà nước, hệ thống doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò “then chốt”, “nòng cốt”, đang được đổi mới, sắp xếp lại nên số lượng doanh nghiệp nhà nước giảm mạnh, hiện chỉ chiếm 5% tổng số doanh nghiệp, tỷ trọng của doanh nghiệp nhà nước đóng góp vào GDP có xu hướng giảm: năm 2010 chiếm 12,55% GDP, năm 2013 là 10,11% GDP, năm 2016 đạt 10,04% GDP và năm 2018 là 9,98%(2). Tốc độ tăng GDP của kinh tế nhà nước/doanh nghiệp nhà nước có xu hướng giảm: năm 2011 là 2,075%; năm 2013 tăng lên 6,425%; năm 2015 là 5,54% và năm 2017 là 4,22%(3). Mặc dù vậy, kinh tế nhà nước vẫn giữ vai trò chi phối nhiều ngành kinh tế then chốt.

    Hình minh họa_ảnh: Internet

    Nhìn nhận một cách khách quan, trong quá trình đổi mới, cùng với những thành tựu chung của nền kinh tế, kinh tế nhà nước/doanh nghiệp nhà nước đã có những thành công đáng kể:

    Một là, có bước phát triển về quy mô tài sản, doanh thu, lợi nhuận nộp ngân sách nhà nước, vốn đầu tư phát triển và năng suất lao động xã hội. Một vài con số minh chứng: năm 2012, nộp ngân sách nhà nước là 142.838 tỷ đồng, tăng lên 171.302 tỷ đồng vào năm 2017; vốn đầu tư phát triển năm 2012 là 406,5 nghìn tỷ đồng, tăng lên 619,1 nghìn tỷ đồng vào năm 2017; năng suất lao động xã hội tính theo giá thực tế, năm 2012 là 178,2 triệu đồng/người; năm 2017 tăng lên 311,9 triệu đồng/người; đóng góp vào GDP, năm 2012 là 9,95%, năm 2017 là 10,0%(4). Theo số liệu Tổng điều tra kinh tế năm 2017 của Tổng cục Thống kê, hiệu suất sinh lời trên tài sản của khu vực doanh nghiệp nhà nước đạt 2,6%, doanh nghiệp tư nhân đạt 1,4%, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 6,9%. Hiệu suất sinh lời/ doanh thu của doanh nghiệp nhà nước đạt 6,6% (tăng đáng kể so với 5,1% của năm 2011), doanh nghiệp tư nhân đạt 1,9%, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 6,7%. Bình quân nộp ngân sách nhà nước của doanh nghiệp nhà nước là 104 tỷ đồng, cao hơn rất nhiều so với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 18 tỷ đồng, gấp 104 lần doanh nghiệp tư nhân.

    Hai là, doanh nghiệp nhà nước đã trở thành lực lượng nòng cốt để thực hiện vai trò quan trọng trong ổn định, tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội theo mục tiêu của Đảng, Nhà nước đề ra, góp phần quan trọng trong bảo đảm quốc phòng, an ninh, an ninh lương thực quốc gia... Hoạt động của doanh nghiệp nhà nước đã góp phần quan trọng cho việc bảo toàn và phát triển các nguồn lực vật chất của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế.

    Ba là, kinh tế nhà nước/doanh nghiệp nhà nước là lực lượng chủ yếu hình thành các trung tâm kinh tế, đô thị mới; là lực lượng đầu tư vào những lĩnh vực, các công trình trọng điểm quốc gia, đòi hỏi vốn lớn, thời gian thu hồi chậm... Đồng thời, kinh tế nhà nước/doanh nghiệp nhà nước là đội quân chủ lực trong hội nhập kinh tế quốc tế, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), đóng vai trò tích cực trong việc hạn chế những tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính và kinh tế toàn cầu trong các năm 2008 - 2010 đến nền kinh tế nước ta. Nhiều tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước hoạt động thực sự có hiệu quả, như Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông quân đội, Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam... Theo bảng xếp hạng VNR 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam năm 2016, có 5 tập đoàn kinh tế nhà nước được xếp hạng (PVN, Viettel, VNPT, Vinacomin, EVN).

    Tuy nhiên, khu vực kinh tế nhà nước/doanh nghiệp nhà nước được ưu đãi về các nguồn lực (tài nguyên, đất đai và các lợi thế khác, nhất là lợi thế độc quyền trong một số lĩnh vực), nhưng hoạt động kém hiệu quả, kể cả trong lĩnh vực quan trọng, cố nắm giữ những lĩnh vực mà khu vực tư nhân có thể làm tốt; các nỗ lực cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước chưa thành công cả về số lượng và chất lượng; sức cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước còn yếu, thất thoát và thua lỗ còn lớn. Tình trạng đặc quyền, đặc lợi, tham nhũng, độc quyền doanh nghiệp đang hiện hữu đã làm méo mó quan hệ thị trường, gây thiệt hại cho người tiêu dùng, hạn chế sự cạnh tranh và phát triển của nền kinh tế, từ đó làm suy yếu vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Một số người chỉ dựa vào những yếu kém, hạn chế của doanh nghiệp nhà nước mà cho rằng, thành phần kinh tế nhà nước không thể giữ vai trò chủ đạo; xác định “kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, Việt Nam đã phải trả giá đắt”. Từ đó, họ đòi hỏi xóa bỏ vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, đòi tư nhân hóa hết doanh nghiệp nhà nước, “khuyên ta nên bỏ cụm từ” kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”... Đây là những cách nhìn phiến diện, thiếu thực tế.

    Cần nhận thức rằng: thời gian qua, doanh nghiệp nhà nước - lực lượng “nòng cốt” của kinh tế nhà nước Việt Nam, mặc dù có những yếu kém, hạn chế, nhưng đó là những yếu kém, hạn chế bắt nguồn từ sự nóng vội, chủ quan, duy ý chí - xây dựng thật nhiều doanh nghiệp nhà nước... để nhanh chóng có chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, một số người đã đồng nhất kinh tế nhà nước với doanh nghiệp nhà nước, coi sự yếu kém của doanh nghiệp nhà nước là sự yếu kém của kinh tế nhà nước. Nguyên nhân của những yếu kém trên là do: việc hình thành hệ thống doanh nghiệp nhà nước, nhất là những át chủ bài (tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước), phần lớn là từ các quyết định hành chính, tức là sử dụng quyền lực nhà nước để thành lập tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước; từ những yếu kém trong khâu tổ chức, quản lý sản xuất - kinh doanh, những sai lầm, yếu kém của một số cá nhân lãnh đạo và nhà quản trị doanh nghiệp... Đây không phải là sai lầm về quan điểm, chủ trương coi kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Bên cạnh đó, nhìn chung, toàn bộ nền kinh tế, kinh tế nhà nước dựa trên lực lượng sản xuất còn thấp kém, cùng với nền kinh tế thị trường còn rất mới... thì sự yếu kém, hạn chế của doanh nghiệp Việt Nam nói chung, doanh nghiệp nhà nước nói riêng là không thể tránh khỏi.

    Xét một cách tổng thể, không phải tất cả các doanh nghiệp nhà nước của Việt Nam đều hoạt động kém hiệu quả. Bên cạnh những tập đoàn kinh tế thua lỗ, có khá nhiều tập đoàn, tổng công ty lớn hoạt động thật sự có hiệu quả, như Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông quân đội, Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam, Tập đoàn Hóa chất... Ngược lại, không phải mọi doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đều hoạt động hiệu quả. Chúng ta đã và đang chứng kiến nhiều “đại gia” của kinh tế tư nhân thua lỗ, mất trắng doanh nghiệp, rơi vào vòng lao lý, tù tội. Có thể thấy, hiệu quả sản xuất - kinh doanh không hẳn do hình thức sở hữu quyết định. Trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa cũng không ít doanh nghiệp thua lỗ, phá sản, yếu kém do yếu tố cạnh tranh, khủng hoảng kinh tế, tài chính... gây ra.

    Không thể tuyệt đối hóa vai trò của kinh tế tư nhân

    Thành phần kinh tế tư nhân ở nước ta ra đời trên cơ sở chế độ sở hữu tư nhân hay chế độ tư hữu (sở hữu cá thể, tiểu chủ và sở hữu tư bản tư nhân), bao gồm: kinh tế cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân (nói gọn là tư nhân và cá thể).

    Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới kinh tế, kinh tế tư nhân được thừa nhận, khuyến khích phát triển; coi đó là “vấn đề chiến lược lâu dài” trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đến nay, kinh tế tư nhân đã phát triển và trở thành lực lượng kinh tế lớn mạnh, đóng vai trò là “động lực quan trọng của nền kinh tế”, góp phần vào công cuộc đổi mới, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Khi nói, kinh tế tư nhân là “động lực quan trọng của nền kinh tế” với hàm ý: việc thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân khuyến khích các chủ thể kinh tế tư nhân làm giàu hợp pháp và góp phần làm giàu cho xã hội, là cách thức giải phóng sức sản xuất, góp phần phát triển kinh tế xã hội.

    Kinh tế tư nhân đã góp phần huy động các nguồn lực (vốn, nhân công, khoa học và công nghệ) vào sản xuất - kinh doanh; thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đóng góp ngày càng nhiều vào ngân sách nhà nước. Đồng thời, tạo môi trường kinh doanh, thúc đẩy phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và góp phần đẩy nhanh tiến độ hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Sự phát triển của kinh tế tư nhân tạo sức ép thúc đẩy đổi mới doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác và đổi mới quản lý nhà nước; tạo ra đội ngũ doanh nhân năng động, có khả năng thích ứng nhanh với cơ chế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế.

    Hơn 30 năm qua, diện mạo của khu vực kinh tế tư nhân đã có sự thay đổi rõ rệt. Theo số liệu thống kê, nước ta hiện có khoảng 620 nghìn doanh nghiệp tư nhân, chiếm hơn 90% số doanh nghiệp cả nước và hơn 01 triệu hộ kinh doanh cá thể, tiểu chủ. Kinh tế tư nhân liên tục duy trì tốc độ tăng trưởng khá cao (năm 2017, kinh tế tư nhân tăng 11,72%, kinh tế cá thể tăng 5,1%); đóng góp 39-40% GDP của cả nước, 30% tổng sản lượng công nghiệp; khoảng 80% tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ và dịch vụ; giai đoạn 2011 - 2015 đóng góp khoảng 36% tổng vốn đầu tư phát triển. Kinh tế tư nhân là lực lượng chủ yếu tạo việc làm mới, thu hút khoảng 85% lực lượng lao động của nền kinh tế, góp phần tích cực vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội và cải thiện đời sống nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội.

    Tuy nhiên, không vì thế mà đề cao quá mức, dẫn đến tuyệt đối hóa kinh tế tư nhân, cho rằng, kinh tế tư nhân là “nền tảng” của nền kinh tế và gán cho nó “vai trò chủ đạo” - vai trò mà bản thân nó không bao giờ đảm nhận được. Bởi vì:

    + Hiện có tới 98% doanh nghiệp thuộc kinh tế tư nhân có quy mô vừa và nhỏ, trong đó doanh nghiệp có quy mô siêu nhỏ chiếm tới 96%. Tỷ lệ doanh nghiệp tư nhân lớn trong số doanh nghiệp Việt Nam còn rất thấp, nhất là khi so với quy mô của doanh nghiệp tư nhân nước ngoài. Hằng năm, VnReport công bố danh sách top 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam (tính cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp tư nhân), số doanh nghiệp tư nhân trong top 500 và top 100 có tăng, nhưng chưa nhiều. Ở Việt Nam, các tập đoàn kinh tế tư nhân đã hình thành và ngày càng mang dáng vóc của một tập đoàn kinh tế, như Vingroup, Hòa Phát, TH TrueMilk, Macsan, SunGroup... nhưng còn ít, hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực bất động sản, thương mại, dịch vụ...

    + Sự đóng góp của kinh tế tư nhân lên đến 40% GDP, nhưng chủ yếu của bộ phận cá thể, còn doanh nghiệp tư nhân đóng góp vào GDP với tỷ lệ rất nhỏ. Ví dụ, năm 2010, đóng góp của doanh nghiệp tư nhân vào GDP là 6,90%, bộ phận cá thể là 32,075%; năm 2015 là 7,80% và 31,335%, năm 2016 các con số tương ứng là 7,90% và 31,50%(5).

    + Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tư nhân còn thấp, chất lượng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ chưa cao, nguồn lực tài chính nhỏ và trình độ trang thiết bị kỹ thuật còn thấp.

    + Năng lực quản trị doanh nghiệp còn nhiều hạn chế. Đại bộ phận doanh nghiệp tư nhân thực hiện kinh doanh theo “kiểu ngắn hạn”, chưa hoạch định được chiến lược kinh doanh dài hạn... vẫn còn tồn tại “tính tự phát” trong sản xuất - kinh doanh.

    + “Vi phạm pháp luật và cạnh tranh không lành mạnh trong kinh tế tư nhân còn khá phổ biến. Tình trạng sản xuất - kinh doanh gây ô nhiễm môi trường, không đảm bảo vệ sinh, an toàn thực phẩm; gian lận thương mại... diễn ra nghiêm trọng, phức tạp. Nhiều doanh nghiệp tư nhân không bảo đảm lợi ích của người lao động, nợ bảo hiểm xã hội, báo cáo tài chính không trung thực, nợ quá hạn ngân hàng, trốn thuế, nợ thuế kéo dài. Xuất hiện những quan hệ không lành mạnh giữa các doanh nghiệp của tư nhân với cơ quan quản lý nhà nước, can thiệp vào quá trình xây dựng, thực thi chính sách để có đặc quyền, đặc lợi, hình thành “lợi ích nhóm” gây hậu quả xấu về kinh tế - xã hội, làm suy giảm lòng tin của nhân dân”(6).

    Từ đó cho thấy, nếu giao “vai trò chủ đạo” nền kinh tế cho kinh tế tư nhân thì chẳng khác gì giao nhiệm vụ “không tưởng”, vượt khỏi khả năng đảm đương của nó. Không nên ảo tưởng rằng, kinh tế tư nhân có thể đóng “vai trò chủ đạo” trong nền kinh tế và cũng không nên buông lỏng để kinh tế tư nhân “tự bơi”, tự phát triển, Nhà nước phải định hướng phát triển và tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách để kinh tế tư nhân vươn lên thực sự là “động lực quan trọng của nền kinh tế”.

    Tóm lại, những ý kiến phủ nhận đường lối kinh tế của Đảng và Nhà nước, hạ thấp vai trò của kinh tế nhà nước, đề cao vai trò của kinh tế tư nhân, cổ vũ cho tư nhân hóa nền kinh tế, tiến tới làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa nền kinh tế nước ta, là mưu đồ rất nguy hiểm, cần cảnh giác với những âm mưu, thủ đoạn và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” này.

    2. Một số giải pháp để kinh tế nhà nước thật sự giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân

    Đảng chủ trương xây dựng và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, việc khẳng định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân là định hướng chính trị đúng đắn, nhất quán và hoàn toàn phù hợp với lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin. Để kinh tế nhà nước thật sự giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung chủ yếu sau:

    Thứ nhất, nhận diện đúng thành phần kinh tế nhà nước, từ đó kiên trì quan điểm lý luận “kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”

    Như đã đề cập ở trên, kinh tế nhà nước không chỉ là doanh nghiệp nhà nước, mà được cấu thành bởi 2 bộ phận. Như vậy, kinh tế nhà nước là khái niệm “mở”, nội hàm rộng, bao quát toàn bộ cơ sở vật chất - kinh tế thuộc sở hữu toàn dân và sở hữu nhà nước, do Nhà nước thống nhất quản lý. Kinh tế nhà nước có phạm vi, vai trò rộng hơn “phạm trù doanh nghiệp nhà nước”, các doanh nghiệp nhà nước là bộ phận “nòng cốt” của kinh tế nhà nước.

    Có thể hiểu kinh tế nhà nước là tập hợp sức mạnh kinh tế mà nó thể hiện trên các ngành, lĩnh vực trọng yếu từ các định chế pháp luật, tài chính, hiệu quả sản xuất - kinh doanh... của “lực lượng nòng cốt” - khu vực doanh nghiệp nhà nước - chứ không chỉ đóng khung trong khối tài sản đăng ký của doanh nghiệp nhà nước, ở quy mô của sở hữu nhà nước, sở hữu toàn dân mà nhà nước đại diện chủ sở hữu. Kinh tế nhà nước còn được nhân lên gấp bội để làm vai trò chủ đạo, định hướng xã hội chủ nghĩa bởi sức mạnh quản lý, điều hành của hệ thống chính trị, quyền lực quốc gia của nhà nước. Kinh tế nhà nước, giữ vị trí trọng yếu trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, là nền tảng cơ bản để phát triển các ngành, lĩnh vực, thành phần kinh tế và loại hình doanh nghiệp giữ vai trò định hướng xã hội chủ nghĩa nền kinh tế nước ta.

    Với phạm vi rộng lớn như vậy, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước được thể hiện như sau: (1) Kinh tế nhà nước có khả năng tạo ra điều kiện vật chất, tiền đề kinh tế - xã hội để phát triển các ngành, lĩnh vực kinh tế và thành phần kinh tế; (2) kinh tế nhà nước/doanh nghiệp nhà nước nắm giữ những vị trí then chốt của nền kinh tế, do đó, có khả năng, điều kiện chi phối hoạt động của các thành phần khác, bảo đảm cho nền kinh tế phát triển theo hướng đã định; (3) chủ động giữ cân đối các lĩnh vực kinh tế lớn, chủ động và trực tiếp đảm nhận đầu tư vào các dự án ở các địa bàn không hấp dẫn hoặc cần thiết để định hướng, mở rộng đầu tư phát triển từ các nguồn vốn ngân sách nhà nước; (4) vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước ngày càng được nhấn mạnh vào các nội dung, mục tiêu vì lợi ích quốc gia và hỗ trợ tối đa để kinh tế tư nhân phát triển.

    Điều khẳng định sự chủ đạo của kinh tế nhà nước, không có nghĩa là lấn át, đè nén và đối lập với kinh tế tư nhân, càng không có nghĩa là doanh nghiệp nhà nước hưởng mọi ưu đãi vô điều kiện. Cần có sự bình đẳng giữa doanh nghiệp nhà nước với các doanh nghiệp khác đã được xác định trong Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư công, Luật Đấu thầu... Hơn nữa, cần thống nhất nhận thức rằng: giữa kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân có mối quan hệ chặt chẽ trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: kinh tế tư nhân càng phát triển thì đóng góp vào ngân sách nhà nước ngày càng lớn. Nghĩa là, làm cho bộ phận phi doanh nghiệp của kinh tế nhà nước phát triển; sự phát triển của kinh tế tư nhân là nhân tố vừa trực tiếp, vừa gián tiếp thúc đẩy kinh tế nhà nước phát triển...

    Các doanh nghiệp nhà nước là lực lượng nòng cốt của kinh tế nhà nước, đi đầu trong hệ thống các doanh nghiệp Việt Nam và cạnh tranh bình đẳng với các loại hình doanh nghiệp khác. Doanh nghiệp nhà nước phải tiên phong đi trước, mở đường ở những ngành, lĩnh vực mà các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác không muốn làm hoặc không làm được khi đã tạo điều kiện, hỗ trợ từ phía nhà nước, những ngành đòi hỏi vốn lớn, công nghệ hiện đại, công nghệ cao, tạo nền tảng cơ bản cho những ngành sản xuất với công nghệ tiên tiến, hiện đại, có giá trị gia tăng cao... Qua đó góp phần đảm bảo vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước.

    Thứ hai, tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, bao gồm:

    - Sắp xếp, điều chỉnh để doanh nghiệp nhà nước có cơ cấu hợp lý, đi đầu trong việc đổi mới, ứng dụng khoa học và công nghệ... doanh nghiệp nhà nước tập trung vào những lĩnh vực then chốt, thiết yếu; những địa bàn quan trọng và quốc phòng - an ninh; nhiệm vụ lĩnh vực mà doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác không đầu tư.

    - Đẩy mạnh cổ phần hóa, bán vốn tại những doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm hoặc không cần giữ cổ phần chi phối; kể cả những doanh nghiệp đang kinh doanh có hiệu quả. Hoàn thiện cơ chế đánh giá đất đai, tài sản hữu hình và tài sản vô hình (tài sản trí tuệ, thương hiệu...) trong cổ phần hóa theo nguyên tắc thị trường, xóa đi rào cản trong quá trình cổ phần hóa là tham nhũng, “lợi ích nhóm”, tình trạng tham quyền cố vị của ban giám đốc doanh nghiệp nhà nước.

    - Tiếp tục tách bạch nhiệm vụ sản xuất - kinh doanh với nhiệm vụ chính trị, công ích.

    - Đổi mới tổ chức và cơ chế hoạt động của đơn vị sự nghiệp công theo hướng nâng cao chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tổ chức bộ máy biên chế, nhân sự và tài chính; xã hội hóa lĩnh vực dịch vụ công, thu hút các thành phần kinh tế tham gia vào lĩnh vực này.

    Thứ ba, cải cách quản trị doanh nghiệp nhà nước

    Cải cách quản trị doanh nghiệp nhà nước ở nước ta hiện nay cần hướng vào hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về tổ chức, mô hình hoạt động của tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, đảm bảo kinh doanh lành mạnh theo cơ chế thị trường, như: giảm tối đa tính độc quyền của các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước; các doanh nghiệp nhà nước phải được tổ chức lại theo mô hình công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn phù hợp với Luật Doanh nghiệp năm 2014. Hoàn thiện mô hình công ty mẹ - công ty con của các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước. Áp dụng chế độ quản trị tiên tiến phù hợp với kinh tế thị trường, khuyến khích áp dụng hệ thống quản trị doanh nghiệp hiện đại cho các tập đoàn và doanh nghiệp.

    Hệ thống quản trị hiện đại bao gồm: hệ thống thông tin quản lý, hệ thống báo cáo quản trị doanh nghiệp theo tiêu chuẩn quốc gia và từng bước hướng tới các tiêu chuẩn quốc tế. Việc kiểm soát, lãnh đạo tập đoàn và doanh nghiệp sẽ thông qua CEO (giám đốc điều hành) và CFO (giám đốc tài chính). CEO có trách nhiệm vạch ra chiến lược phát triển và thực hiện chiến lược đó. CFO có trách nhiệm kiểm soát thực hiện chiến lược tài chính, hiệu suất quản trị, kiểm soát rủi ro của tập đoàn) doanh nghiệp và là đại diện giám sát cho chủ sở hữu. Thực hiện chế độ kiểm tra, kiểm toán, giám sát chặt chẽ, công khai minh bạch về đầu tư, tài chính và các hoạt động của doanh nghiệp nhà nước. Nâng cao tính độc lập, chuyên nghiệp và năng lực chuyên môn của các ban kiểm tra tại các doanh nghiệp nhà nước để việc kiểm tra, giám sát nội bộ thực sự hiệu quả.

    Thứ tư, xây dựng chiến lược cán bộ quản lý kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là đội ngũ cán bộ quản lý cao cấp

    Doanh nghiệp nhà nước là lực lượng nòng cốt của kinh tế nhà nước. Đội ngũ cán bộ quản lý kinh doanh, đặc biệt là các nhà quản trị cao cấp, được coi là yếu tố hàng đầu quyết định sự thành bại của doanh nghiệp nhà nước.

    Đội ngũ cán bộ quản lý kinh doanh, đặc biệt là đội ngũ các nhà quản trị cao cấp, là “bộ phận đặc thù’’ trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý của Đảng và Nhà nước. Họ phải có nghề - nghề quản lý kinh doanh, với kiến thức và năng lực tương ứng, với tầm nhìn chiến lược đảm bảo sự tồn tại, phát triển của doanh nghiệp trong cơ chế thị trường. Họ chịu trách nhiệm, nắm, chi phối, sử dụng có hiệu quả nguồn vốn, tài sản... của Nhà nước, nhân dân giao cho họ quản lý. Vì vậy, cần xây dựng chiến lược cán bộ quản lý kinh doanh để các doanh nghiệp nhà nước có được đội ngũ các nhà kinh doanh, nhà quản trị bảo đảm cho doanh nghiệp hoạt động hiệu quả trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Theo đó, lựa chọn, đào tạo, bố trí, sử dụng đội ngũ cán bộ quản trị kinh doanh với nguyên tắc cần quán triệt là “giao tài sản cho người nào có khả năng quản lý có hiệu quả tài sản đó’’. Như vậy, có thể thay chế độ bổ nhiệm cán bộ quản lý doanh nghiệp - quản trị kinh doanh, nhất là nhân sự cao cấp, hiện nay bằng cơ chế thu hút, tuyển chọn thông qua thị trường nhân sự quản trị kinh doanh, thi tuyển, mở rộng diện thuê giám đốc điều hành, thậm chí có thể là các nhà quản trị giỏi người nước ngoài.

    Cùng với việc đào tạo, bồi dưỡng, vấn đề “giữ chân”, nâng cấp đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý cao cấp/nhân lực quản trị cao cấp cần được coi trọng, theo hướng: (1) xây dựng hệ thống trách nhiệm hài hòa về vật chất, tinh thần pháp luật, đạo đức và trách nhiệm xã hội của các nhà quản trị cao cấp; (2) áp dụng lý thuyết trả lương theo 2 chóp: chóp thứ nhất là sự phát triển theo nguyên tắc, yêu cầu quy định ngạch, bậc chỉ huy trong đơn vị; chóp thứ hai chính là sự khuyến khích tài, đức của cá nhân dựa trên sự cống hiến, năng lực của chính người đó.

    Thứ năm, nâng cao vai trò, hiệu lực quản lý nhà nước phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

    Kinh tế nhà nước chỉ có thể phát huy được vai trò của mình khi có hệ thống quản lý nhà nước phù hợp và có sức mạnh thật sự của chính mình. Xét đến cùng, sự yếu kém của các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước có nguyên nhân từ phía Nhà nước nhiều hơn từ phía doanh nghiệp nhà nước. Do đó, nâng cao vai trò, hiệu quả quản lý nhà nước đang là một trong các vấn đề lớn, vừa có ý nghĩa cấp bách trước mắt, vừa có ý nghĩa lâu dài. Những biện pháp cần thực hiện là:

    - Nhà nước phải thể hiện đầy đủ vai trò của “người nhạc trưởng”, “tạo lập sân chơi rõ ràng, luật chơi công bằng và điều khiển cuộc chơi công tâm’’, tạo môi trường bình đẳng cho sự phát triển các thành phần kinh tế nhằm phát huy các nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội. Theo đó, khi thực hiện chức năng của mình phải thể hiện vai trò của “Nhà nước kiến tạo phát triển”.

    - Đòi hỏi Nhà nước không thể tiếp tục dành những “ưu ái’’ cho doanh nghiệp nhà nước, phải đưa các doanh nghiệp nhà nước vào hoạt động trong môi trường cạnh tranh bình đẳng với các thành phần kinh tế để bảo đảm Nhà nước “đứng đúng chỗ, thực hiện đúng vai trò” trong tổng các chủ thể kinh tế thị trường.

    - Cơ quan quản lý nhà nước cần tập trung thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát, kiểm soát các doanh nghiệp nhà nước. Điều quan trọng nhất là yêu cầu các doanh nghiệp phải công khai, minh bạch các thông tin về hoạt động kinh tế, đặc biệt các thông tin về đầu tư, tài chính.

    - Nhà nước phải xây cơ chế chính sách để phân bổ, sử dụng, quản lý có hiệu quả các nguồn lực thuộc sở hữu nhà nước (tài sản công, tài chính công và đầu tư công)./.

    Tài liệu tham khảo:

    (1) Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2014, tr.25

    (2), (3) và (4) Thời báo Kinh tế Việt Nam, Kinh tế 2018- 2019, Việt Nam và thế giới, tr.99

    (5) Thời báo Kinh tế Việt Nam, Kinh tế 2016-2017, Việt Nam và thế giới, tr.102

    (6) Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết số 10-NQ/ TW về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, ngày 03/6/2017

    GS,TS Chu Văn Cấp, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

    (Theo hcma.vn)

    • Năm phát hành
    • Đang truy cập:113
    • Hôm nay: 130
    • Tháng hiện tại: 44377
    • Tổng lượt truy cập: 2256655
    Địa chỉ: 36 Xuân Thủy - Cầu Giấy - Hà Nội
    Email: website@ajc.edu.vn
    Liên hệ: (84-024) 37.546.963
    Fax: (84-024) 37548949