Đề tài cơ sở trọng điểm năm 2012: “Mối quan hệ giữa nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự ở Việt Nam hiện nay”

    15/01/2013 10:30 AM


    Sau đây AJC xin giới thiệu tóm tắt đề tài  cơ sở trọng điểm năm 2012 “Mối quan hệ giữa nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự ở Việt Nam hiện nay” do PGS.TS. Lưu Văn An – Phó Giám đốc Học viện Báo chí và Tuyên truyền làm chủ nhiệm, đã được Hội đồng nhất trí đánh giá đạt xuất sắc.  

    CHƯƠNG 1: MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VÀ XÃ HỘI DÂN SỰ Ở VIỆT NAM - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

    1. Một số vấn đề về Nhà nước pháp quyền Việt Nam

    1.1.1. Quan niệm nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân

    1.1.1.1. Khái niệm nhà nước pháp quyền

     Là nhà nước mà ở đó nhà nước và cá nhân phải tuân thủ pháp luật và nghĩa vụ của tất cả, của mỗi người được pháp luật công nhận và bảo vệ, các quy trình, các quy phạm pháp luật được đảm bảo thực hiện bằng một hệ thống tòa án độc lập.

    1.1.1.2. Khái niệm nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân

    NNPQ XHCN của dân, do dân, vì dân là nhà nước được xây dựng dựa trên nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, do nhân dân bầu ra, có mục tiêu phục vụ lợi ích của nhân dân. Nhà nước hoạt động dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản, có mục tiêu đi lên CNXH.

    1.1.2. Những đặc trưng cơ bản và chức năng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

    1.1.2.1. Những đặc trưng cơ bản

    - Thứ nhất, đó là Nhà nước của dân, do dân, vì dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.

    - Thứ hai, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp và kiểm soát chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.

    - Thứ ba, Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật và bảo đảm cho Hiến pháp và các đạo luật giữ vị trí tối thượng trong đời sống xã hội.

    - Thứ tư, Nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; nâng cao trách nhiệm pháp lý giữa Nhà nước và công dân; thực hành dân chủ, đồng thời tăng cường kỷ cương, kỷ luật.

    - Thứ năm, Nhà nước tôn trọng và thực hiện đầy đủ các điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam là thành viên.

    - Thứ sáu, Nhà nước do Đảng Cộng sản lãnh đạo, đồng thời bảo đảm sự giám sát của nhân dân, sự phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.

    1.1.2.2. Chức năng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

    - Chức năng bảo vệ chủ quyền, độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước.

    - Chức năng tổ chức quản lý nền KTTT định hướng XHCN.

              - Chức năng xã hội.

    - Chức năng bảo vệ trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

    - Chức năng mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, hợp tác và hữu nghị với các dân tộc vì hòa bình, ổn định và phát triển.

    1.1.3. Tình hình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay

    1.1.3.1. Những thành tựu

    Trải qua các kỳ Đại hội (từ Đại hội VIII –XI), Đảng ta đã từng bước phát triển hệ thống quan điểm, nguyên tắc cơ bản về xây dựng NNPQ XHCN. Hiến pháp 1992 (sửa đổi năm 2001) và nhiều bộ luật, pháp lệnh được ban hành, tạo khuôn khổ pháp lý để Nhà nước quản lý bằng pháp luật trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng… Tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước, trước hết là của cơ quan hành chính nhà nước, đã có một bước điều chỉnh theo yêu cầu của quá trình chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp sang quản lý nền kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng XHCN. Đánh giá về thực trạng hoạt động của bộ máy nhà nước hiện nay, Đảng ta khẳng định: Việc xây dựng NNPQ XHCN được đẩy mạnh, hiệu lực và hiệu quả hoạt động được nâng lên. Quốc hội tiếp tục được kiện toàn về tổ chức, có nhiều đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động… Cơ cấu tổ chức, bộ máy của Chính phủ được sắp xếp, điều chỉnh, giảm đầu mối theo hướng tổ chức các bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực… Tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp có một số đổi mới.

    1.1.3.2. Những hạn chế và vấn đề đặt ra

    - Bộ máy nhà nước ta chưa thật sự trong sạch, vững mạnh; tình trạng tham nhũng, lãnh phí, quan liêu còn nghiêm trọng.

    - Quản lý nhà nước chưa ngang tầm với đòi hỏi của thời kì mới; chưa phát huy đầy đủ mặt tích cực và hạn chế được tính tự phát, tiêu cực của kinh tế thị trường.

    - Tổ chức bộ máy nhà nước còn nặng nề, sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền hành pháp, lập pháp và tư pháp còn có những điểm chưa rõ về chức năng, nhiệm vụ.

    - Sự lãnh đạo của Đảng với Nhà nước vẫn còn tình trạng buông lỏng và bao biện.

    - Hoạt động lập pháp bộc lộ một số bất cập trong thiết kế hoàn thiện tổng thể hệ thống pháp luật và trong xác định thứ tự ưu tiên cần thiết của từng văn bản pháp luật cũng như nâng cao tính khả thi và tính hiệu lực của văn bản pháp luật.

              Vấn đề đặt ra là đi liền với NNPQ XHCN phải có một XHDS được tổ chức một cách nền nếp và hoạt động có hiệu quả theo pháp luật, theo những giá trị và chuẩn mực của dân chủ. NNPQ đòi hỏi phải nâng cao dân trí, môi trường thông tin, những cơ sở vật chất kỹ thuật công nghệ cho sự vận hành tổ chức và hoạt động Nhà nước.

    Cần tập trung đổi mới, hoàn thiện đồng bộ cả 3 yêu cầu “rà soát, xác định chức năng, nhiệm vụ; sắp xếp tổ chức, bộ máy; tinh giản biên chế”.

      Hiện nay, lý luận và thực tiễn về Đảng cầm quyền trong điều kiện xây dựng NNPQ vẫn chưa được nghiên cứu tổng kết để rút ra bài học kinh nghiệm.

    PGS.TS. Lưu Văn An - Chủ nhiệm đề tài cơ sở trọng điểm năm 2012

    1.2. Một số vấn đề về xã hội dân sự Việt Nam

    1.2.1. Quan niệm, tính chất xã hội dân sự

    1.2.1.1. Quan niệm xã hội dân sự

    XHDS là một mạng lưới rộng lớn gồm những tổ chức xã hội, đoàn thể, hiệp hội, phong trào…, nằm ngoài nhà nước, liên kết với nhau bằng hệ thống các qui tắc thoả thuận giữa các thành viên, do các cá nhân tự do lập ra, hoạt động dựa trên nguyên tắc tự chủ, tự nguyện, tự chịu trách nhiệm.  

    1.2.1.2. Tính chất của xã hội dân sự

    - Thứ nhất, tính cộng đồng tự nguyện

    - Thứ hai, tính tự chủ

    - Thứ ba, tính tự quản, tự trị

    - Thứ tư, tính công khai, dân chủ, minh bạch

    - Thứ năm, tính độc lập so với nhà nước

    1.2.2. Đặc trưng, chức năng và vai trò của xã hội dân sự

    1.2.2.1. Đặc trưng

    - Thứ nhất, sự xuất hiện và phát triển XHDS liên quan đến việc khắc phục khuôn khổ chật hẹp của chế độ đẳng cấp phong kiến, đến sự xuất hiện của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.

    - Thứ hai, XHDS xuất hiện trong thời kì nhất định của sự phát triển xã hội và liên hệ chặt chẽ với sự thay đổi lịch sử các hình thức của nhà nước trong sự thống nhất mâu thuẫn biện chứng.

    - Thứ ba, trong lòng XHDS đó, ý nghĩa cá nhân của con người được phát triển, họ chuyển từ thân phận thần dân thành các công dân.

    - Thứ tư, chỉ ra những danh giới rõ rệt, một bên là những hoạt động kinh tế tư nhân hướng theo lợi nhuận, bên kia là những hoạt động chính trị hướng vào việc chiếm lãnh và thực thi quyền lực nhà nước;

    - Thứ năm, định ra một khu vực đa dạng gồm những hội nhóm và tổ chức khác nhau. Những thành tố này có thể sẽ trở thành những đảm bảo quan trọng cho một chính sách phát triển bền vững và trong khuôn khổ hợp tác của các cơ quan nước ngoài, cần phải được ưu tiên trợ giúp tùy theo thực chất của từng tổ chức;

    - Thứ sáu, cần phải tiến tới tầm cỡ độc lập về mặt chính trị xã hội, và qua đó, các tổ chức có một tiềm năng quan trọng phục vụ cho tiến trình phát triển dân chủ;

    - Thứ bảy, miêu tả vai trò các thành tố "dân chủ tham gia" như là một bổ khuyết cho các cơ quan "dân chủ đại diện";

    - Thứ tám, có khả năng tiến tới tầm cỡ toàn cầu thông qua việc kết nối với những tổ chức XHDS khác trên thế giới.

    1.2.2.2. Chức năng của xã hội dân sự

    - Thứ nhất, chức năng đại diện.

    - Thứ hai, chức năng bảo vệ.

    - Thứ ba, chức năng hỗ trợ, chia sẻ.

    - Thứ tư, chức năng phản biện xã hội.

    - Thứ năm, XHDS đáp ứng các nhu cầu, lợi ích chính đáng của các thành viên, đồng thời củng cố, bảo vệ và phát triển lợi ích cộng đồng.

    1.2.2.3. Vai trò của xã hội dân sự

    1) Là cầu nối, kênh truyền tải tiếng nói của các tầng lớp nhân dân đến Nhà nước;

    2) Có khả năng và điều kiện để bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp và chính đáng của các tầng lớp nhân dân;

    3) Tham gia trực tiếp vào các quá trình xây dựng đường lối, chính sách, pháp luật, góp phần xây dựng và hoàn thiện hệ thống nhà nước, hệ thống kinh tế;

    4) Tổ chức phản biện xã hội đối với những chủ trương, đường lối, chính sách, góp phần làm minh bạch hóa đời sống xã hội và hệ thống nhà nước;

    5) Các tiềm năng và nguồn lực tự nhiên và xã hội được phát huy nhằm huy động tối đa đóng góp vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

    1.2.3. Tình hình hoạt động của xã hội dân sự Việt Nam hiện nay

    1.2.3.1. Đặc điểm xã hội dân sự Việt Nam

    XHDS là diễn đàn giữa gia đình, nhà nước và thị trường, nơi mà mọi con người bắt tay nhau để thúc đẩy quyền lợi chung” (CIVICUS 2005), nên khó tách bạch ranh giới giữa Nhà nước với XHDS.

    Ở nước ta hiện nay, các tổ chức XHDS rất đa dạng, bao gồm các loại hình sau đây:

    1) Các tổ chức CT-XH.

    2) Các hiệp hội nghề nghiệp - xã hội cấp trung ương.

    3) Các hiệp hội địa phương chỉ hoạt động trong một địa phương.

    4) Các hiệp hội nghiên cứu và phát triển khoa học, công nghệ, bảo tồn di sản văn hoá truyền thống và môi.

    5) Các tổ chức cộng đồng dân cư, do người dân lập, tự quản gồm hàng chục nghìn quỹ, hội tín dụng, tiết kiệm, hỗ trợ người nghèo, tàn tật..., và các tổ, đội, câu lạc bộ văn hoá - nghệ thuật, thể dục - thể thao...

    6) Các tổ chức phi chính phủ (NGO.

    7) Các tổ chức kinh tế: các hiệp hội kinh tế, các hợp tác xã sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp…

    8) Các tổ chức tôn giáo, tín ngưỡng: Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Tin Lành, Hoà Hảo, Cao Đài, Hồi giáo…

    Trong tổng số 86 triệu dân cả nước, ước tính có 65 -70 triệu người tham gia từ một đến nhiều tổ chức xã hội. Các tổ chức xã hội (cả chính thức và không chính thức) tạo thành lực lượng xã hội công dân thực sự rộng lớn.

    Mặc dù chưa có văn bản chính thức đề cập đến XHDS ở Việt Nam, nhưng Đảng ta chủ trương xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc- nần tảng cơ bản của XHDS.

    Có thể khẳng định rằng, ở Việt Nam hiện nay, XHDS vẫn đang tồn tại và phát triển. Trong so sánh với XHDS các nước khác, XHDS Việt Nam có những đặc điểm sau đây:

    - XHDS thấm nhuần văn hoá cộng đồng, tính đoàn kết và tương trợ xã hội, xuất phát từ lâu đời trong sinh hoạt làng xã.

    - XHDS đã xuất hiện trong xã hội phong kiến, đó là việc xuất hiện các tổ chức xã hội để đấu tranh và bảo vệ quyền lợi cho ngư­ời dân (các phường, hội…).

    - XHDS hiện nay đang hoạt động trong thể chế một đảng cầm quyền, nhất nguyên chính trị nên cơ cấu tổ chức trong XHDS và trong hệ thống chính trị sẽ mang tính trung gian hai mặt (một số tổ chức vừa là tổ chức chính trị, vừa là tổ chức xã hội).

    - XHDS hiện nay hoạt động trong môi trường nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, NNPQ XHCN, (khác cơ bản XHDS mang tính chất TBCN).

    - XHDS về cơ bản không mang tính đối kháng trong nội bộ và với Nhà nước, ngược lại thường phối hợp hoạt động, giúp thực hiện một số chức năng của Nhà nước; tuy nhiên tổ chức hoạt động còn phân tán, tính pháp lý chư­a đầy đủ.

    1.2.4.2. Kết quả và một số vấn đề đặt ra trong hoạt động của xã hội dân sự

    - Thứ nhất, về bình diện cấu trúc, được xem xét dựa trên các tiêu chí: chiều rộng của sự tham gia của người dân; chiều sâu của sự tham gia của công dân trong XHDS; sự đa dạng của thành phần tham gia XHDS; cấp độ cơ chế tổ chức; các mối quan hệ giữa các đối tượng trong hoạt động XHDS và các nguồn lực, thì Việt Nam được đánh giá tổng thể là ở giữa mức “có mặt yếu” và “có mặt mạnh”. XHDS chia làm nhiều thành phần gây nên khó khăn cho việc phân tích[1].

    - Thứ hai, về bình diện môi trường: bao gồm tổng thể môi trường chính trị, xã hội, kinh tế, văn hoá, pháp lý. XHDS Việt Nam được xem xét cụ thể qua 7 tiểu mục: bối cảnh chính trị; quyền tự do công dân; bối cảnh kinh tế xã hội; bối cảnh văn hoá xã hội; môi trường pháp lý; mối quan hệ giữa Nhà nước và XHDS; mối quan hệ giữa khu vực tư nhân và XHDS.

    - Thứ ba, về bình diện các giá trị, cũng được xem xét ở 7 tiểu bình diện với 14 chỉ số liên quan đến việc thực hiện các giá trị xã hội của XHDS Việt Nam là: dân chủ; sự minh bạch của các CSO; tính khoan dung trong XHDS; phi bạo lực; bình đẳng giới; xoá nghèo; môi trường bền vững. Điểm số chung cho thấy mức độ giá trị trên trung bình.

    - Thứ tư, về bình diện tác động, nhóm nghiên cứu đưa ra 5 tiểu bình diện với các chỉ số là: Ảnh hưởng đến chính sách; duy trì trách nhiệm của Chính phủ và khu vực tư nhân; đáp ứng các mối quan tâm của xã hội; tăng cường quyền lực cho công dân; đáp ứng các nhu cầu của xã hội.

    Từ những phân tích trên, nhóm nghiên cứu đi đến một số đánh giá ban đầu về XHDS ở Việt Nam như sau:

    - Một là, có một số lớn những thay đổi cơ bản xảy ra từ thập niên 90 trong cấu trúc của các tổ chức XHDS.

    - Hai là, đặc trưng của các tổ chức dân sự là chưa rõ ràng.

    - Ba là, thập kỷ 1990 và nửa đầu thập kỷ 2000, XHDS có một số tác động, một số sức mạnh nhất định và XHDS có thể coi là một trong những động lực cho sự thay đổi trong định hướng tổng thể của chính sách.

    Qua việc đánh giá về XHDS Việt Nam cần lưu ý một số điểm như sau:

    - Thứ nhất, về cơ cấu XHDS, các tổ chức chính trị - xã hội được ghi nhận trong Hiến pháp những thiết chế gắn liền với Đảng và Nhà nước, được coi là các tổ chức XHDS. Các tổ chức tín ngưỡng, tôn giáo và các NGO nước ngoài không thuộc cơ cấu của XHDS.

    - Thứ hai, mặc dù phải thừa nhận rằng, XHDS cần đến Nhà nước, đến hỗ trợ và bảo trợ của Nhà nước và pháp luật, song ở Việt Nam, sự hỗ trợ và bảo trợ này khá lớn.

    - Thứ ba, về phương diện pháp lý, đến nay vẫn chưa có những quy chế pháp lý mạnh mẽ, thống nhất và cụ thể để “triển khai” nguyên tắc hiến định về quyền tự do lập hội trên thực tế.

    - Thứ tư, hoạt động của XHDS vẫn có biểu hiện chưa thực chất so với bản chất và chức năng sẵn có.

    Trước tình hình đó, xây dựng XHDS ở Việt Nam cần đặt trọng tâm vào một số vấn đề sau đây:

    - Cần khẩn trương nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống, toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn của XHDS.

    - Về tư tưởng, cần nhận thức rõ và có quan điểm đúng về sự tồn tại khách quan và vai trò, chức năng to lớn của XHDS ở Việt Nam trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, xây dựng NNPQ và dân chủ hóa đời sống xã hội.

    - Các hình thức tổ chức xã hội dân sự là đa dạng và vô tận nên, cần mở rộng và đa dạng hóa các hình thức tập hợp nhân dân.

    - Nhanh chóng bổ sung, hoàn thiện thể chế, khung pháp lý đồng bộ, hợp lý, cần thiết để thúc đẩy sự phát triển lành mạnh, đúng hướng và thuận lợi của các tổ chức XHDS.

    1.3. Đặc điểm mối quan hệ giữa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và xã hội dân sự ở Việt Nam hiện nay

    1.3.1. Thực chất mối quan hệ giữa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và xã hội dân sự

    Mối quan hệ này được ví như mối quan hệ biện chứng giữa kiến trúc thượng tầng và cơ sở hạ tầng. Không thể có XHDS nếu không có NNPQ, ngược lại NNPQ không thể vận hành tốt nếu không có XHDS.

    Trong thực tiễn, mối quan hệ giữa NNPQ XHCN và XHDS là mối quan hệ biện chứng, có tác động qua lại chặt chẽ với nhau:

    - Thứ nhất, quan hệ giữa NNPQ và XHDS là mối quan hệ giữa giai cấp thống trị đối với toàn xã hội.

    - Thứ hai, XHDS tồn tại và phát triển do sự quan ngại về nguy cơ xói mòn, suy yếu và lụi tàn của tinh thần cộng đồng trong xã hội, nhất là trong giai đoạn phát triển KTTT định hướng XHCN.

    - Thứ ba, NNPQ và XHDS phối hợp, hỗ trợ nhau điều tiết các quan hệ xã hội.

    - Thứ tư, XHDS thường hướng tới mục tiêu phản biện NNPQ XHCN vì quyền bình đẳng và công bằng xã hội.

    - Thứ năm, cán bộ, công chức là thành viên của NNPQ đồng thời là thành viên của XHDS nên phải thực hiện đầy đủ trách nhiệm ở cả hai vị trí.

    1.3.2. Tác động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đối với xã hội dân sự

    - Thứ nhất, NNPQ XHCN tạo lập môi trường hoạt động cho XHDS, đồng thời xây dựng hành lang pháp lý để quản lý các tổ chức xã hội, thông qua đó định hướng phát triển của XHDS.

    - Thứ hai, NNPQ XHCN thông qua các đạo luật nhằm quy định và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân, trong đó có quyền hội họp, quyền tham gia các tổ chức xã hội.

    - Thứ ba, với sức mạnh của mình, NNPQ XHCN đảm bảo cho pháp luật luôn giữ vị trí tối cao, các cá nhân, tổ chức XHDS phải tuân thủ tuyệt đối.

    - Thứ tư, NNPQ XHCN đảm bảo tính hiệu lực, hiệu quả của việc kiểm tra, giám sát quá trình thực thi quyền lực, ngăn ngừa nguy cơ lạm quyền hoặc xâm phạm lợi ích hợp pháp của công dân từ phía các cơ quan nhà nước.

    - Thứ năm, NNPQ XHCN thường xuyên xây dựng, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật, điều chỉnh các chính sách cho phù hợp với xu thế phát triển của XHDS.

    1.3.3. Tác động của xã hội dân sự đối với Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

    -  XHDS là nền tảng xã hội vững chắc để xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

    - XHDS tham gia cùng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực hiện chức năng xã hội, đồng thời tích cực tham gia giám sát và phản biện nhà nước

    - XHDS là trợ thủ đắc lực giúp nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực hiện quyền và lợi ích của nhân dân, thực hiện nguyên tắc Nhà nước của dân, do dân, vì dân.

    - XHDS thúc đẩy và mở rộng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, tạo điều kiện xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

    - XHDS tham gia điều tiết các mối quan hệ xã hội có liên quan đến nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

    - XHDS tích cực tham gia giải quyết những vấn đề pháp lý dưới luật như hòa giải mâu thuẫn, bất đồng trong cộng đồng, góp phần trực tiếp vào củng cố, phát triển đời sống xã hội theo đúng những yêu cầu cơ bản về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của dân, do dân, vì dân.

    CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VỚI XÃ HỘI DÂN SỰ Ở VIỆT NAM VÀ KINH NGHIỆM MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

    2.1. Thực trạng mối quan hệ giữa Nhà nước pháp quyền với xã hội dân sự Việt Nam

    2.1.1. Quan hệ giữa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với các tổ chức chính trị- xã hội

    2.1.1.1. Những thành tựu cơ bản

    - Thứ nhất, các tổ chức CT-XH tham gia vào việc thành lập các cơ quan nhà nước.

    - Thứ hai, các tổ chức CT-XH tích cực tham gia xây dựng và tuyên truyền pháp luật.

    - Thứ ba, các tổ chức CT-XH thực hiện giám sát, phản biện xã hội đối với Nhà nước..

    2.1.1.2.  Những hạn chế

    - Một là, dân chủ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc chưa được phát huy đầy đủ.

    - Hai là, chủ trương, quan điểm của Đảng về đại đoàn kết toàn dân tộc; về quyền và lợi ích của các giai cấp, tầng lớp nhân dân chưa được cụ thể hóa đầy đủ thành pháp luật; hoặc đã có pháp luật nhưng chưa được thực hiện nghiêm túc; công tác kiểm tra, đôn đốc chưa thường xuyên; giữa chủ trương và hiện thực còn khoảng cách xã.

    - Ba là, sự lúng túng của chính quyền các cấp trong triển khai thực hiện sự lãnh đạo của Đảng đối với các tổ chức CT-XH, các tổ chức xã hội trong điều kiện mới.

    - Bốn là, khâu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho các tổ chức XHDS chưa được chú ý đúng mức, chế độ đãi ngộ chưa rõ ràng.

    - Năm là, thanh tra nhân dân hoạt động kém hiệu quả.

    - Sáu là, vai trò giám sát phản biện xã hội của các tổ chức CT-XH đối với Nhà nước còn rất mờ nhạt, vai trò của một số tổ chức bị lu mờ, thậm chí bị vô hiệu hoá.

    - Bảy là, tình trạng tham nhũng vẫn khá phổ biến.

    Nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế nêu trên là do hầu hết cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức chưa đầy đủ về vị trí, vai trò, chức năng của XHDS nói chung, các tổ chức CT-XH nói riêng; nên việc xác định tiêu chí pháp lý của các cơ quan nhà nước trong quản lý, sử dụng lực lượng của các tổ chức CT-XH còn rất chung chung, không theo quy chế thống nhất, chặt chẽ; vừa bao biện làm thay, vừa buông lỏng quản lý. Quan hệ giữa Nhà nước và các tổ chức CT-XH còn nhiều bất cập do chưa có một cơ chế bảo đảm kinh phí hoạt động cho các tổ chức này.

    2.1.2. Quan hệ giữa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với các tổ chức xã hội

    2.1.2.1. Quan hệ giữa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với các tổ chức cộng đồng trong khu dân cư

    Chính quyền các cấp, nhất là cấp cơ sở đã có sự chuyển biến mạnh về nhận thức vai trò xã hội to lớn của các tổ chức cộng đồng trong khu dân cư (các hội tự quản, dòng họ, bản, làng…), tăng cường phối hợp hoạt động tự quản với các tổ chức này, thông qua đó phát huy vai trò làm chủ của người dân ở cơ sở. Chính quyền đã chú trọng đến quản lý hoạt động tự quản của nhân dân, tạo điều kiện để họ phát triển kinh tế- xã hội theo đúng quy định của pháp luật. Việc đề bạt, sử dụng cán bộ ở các địa phương đã chú ý gắn với phát huy vai trò những người đứng đầu tổ chức cộng đồng trong khu dân cư như các vị trưởng tộc, trưởng họ, già làng, trưởng bản…

    Tuy nhiên, quan hệ giữa NNPQ và các tổ chức xã hội cộng đồng dân cư cũng còn nhiều hạn chế, bất cập, dẫn đến xảy ra xung đột, bất đồng giữa các tổ chức này với chính quyền địa phương.

    2.1.2.2. Quan hệ giữa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với các hiệp hội, tổ chức phi chính phủ (NGO)

    Trong thời kỳ đổi mới, ở nước ta ra đời nhiều hội, hiệp hội nghề nghiệp, hội từ thiện, các tổ chức phi chính phủ và các tổ chức này hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích, trở thành một thể chế xã hội ngày càng phổ biến. Để tăng cường quản lý vĩ mô đối với các hiệp hội, NGO, Nhà nước đã phân định ngày càng rõ hơn tính chất, chức năng, phương thức hoạt động của các NGO dựa trên nguyên tắc cơ bản của nền pháp chế XHCN. Từng hiệp hội, NGO ngày càng phát triển phù hợp với tiêu chí NNPQ XHCN. Đối với các NGO nước ngoài, Nhà nước ta thực hiện chính sách dân chủ, tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức này hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích, không can thiệp vào công việc nội bộ của họ.

    Về phần mình, các hiệp hội, NGO đã và đang đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, xây dựng và mở rộng dân chủ đất nước.

    Tuy nhiên, quan hệ giữa NNPQ với các hiệp hội, NGO vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế. Đó là sự coi nhẹ vấn đề giải quyết mối quan hệ giữa chính quyền các cấp với các hiệp hội, NGO. Nhiều cán bộ công chức có quan niệm không đúng về các tổ chức này, cho đó là những tổ chức xã hội “thứ yếu”, kém quan trọng so với các tổ chức CT-XH, nên Nhà nước không cần thiết phải lập mối quan hệ với họ.

    2.1.2.3. Quan hệ giữa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với các tổ chức tôn giáo, tín ngưỡng

    Các cấp chính quyền nhà nước đã thực hiện chức năng quản lý tôn giáo, củng cố mối quan hệ với các tổ chức tín ngưỡng tôn giáo. Các quy định về tôn giáo tiếp tục được bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với điều kiện xây dựng NNPQ XHCN. Chính quyền tôn trọng và bảo đảm quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường của nhân dân, quyền có nơi thờ tự, có kinh sách, phương tiện hoạt động, được đào tạo chức sắc, được tham gia các tổ chức xã hội vì lợi ích chung của cộng đồng. Mọi công dân theo tôn giáo hoặc không theo tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Đồng thời, Nhà nước cũng đã quản lý chặt chẽ các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, ngăn chặn việc lợi dụng tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, lừa bịp, gây thiệt hại cho nhân dân và làm tổn hại thuần phong mỹ tục dân tộc.

    Về phía các tổ chức tôn giáo, tín ngưỡng trong quan hệ với NNPQ XHCN, cần nhấn mạnh nước ta là quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo, trong lịch sử các tôn giáo phát triển hòa đồng đan xen nhau, không có chiến tranh tôn giáo, chỉ có một số bất đồng tôn giáo nhỏ ở một số địa bàn. Hiện nay, các tổ chức tôn giáo tích cực đóng góp công sức vào công cuộc xây dựng CNXH, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, không ngừng tăng cường sức mạnh quản lý của Nhà nước, của hệ thống pháp luật.

    Tuy nhiên, trong điều kiện xây dựng NNPQ, quá trình quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với các tổ chức tôn giáo, tín ngưỡng cũng bộc lộ những hạn chế:

    - Cho đến nay, các văn bản nhà nước về tôn giáo vẫn là các văn bản dưới luật, hiệu lực pháp lý thấp, dẫn đến tình trạng tùy tiện trong thực hiện.

    - Trong quan hệ trực tiếp giữa chính quyền nhà nước các cấp với các tổ chức và đồng bào tôn giáo vẫn còn có những điểm bất đồng..

    - Quá trình giải quyết mối quan hệ đạo- đời của Nhà nước với giáo hội có nhiều phức tạp, chưa đáp ứng được yêu cầu của NNPQ XHCN.

    2.1.2.4. Quan hệ giữa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với các tổ chức kinh tế

    Trong tiến trình xây dựng NNPQ, Nhà nước ta đã ban hành nhiều đạo luật để điều chỉnh tổ chức và hoạt động của các đơn vị kinh tế và kiểm tra việc chấp hành những quy phạm pháp luật ấy. Ngoài Hiến pháp, các luật về kinh tế: Luật Đầu tư nước ngoài (1987), Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật công ty (1991), Luật Doanh nghiệp nhà nước (1995), Luật các tổ chức tín dụng (1997), Luật doanh nghiệp (2005)… là các văn bản pháp lý tạo khung tổ chức và hoạt động của các tổ chức kinh tế. Khung pháp luật về môi trường kinh doanh, điều chỉnh quan hệ pháp nhân kinh tế cũng được ban hành, như: Luật Khuyến khích đầu tư trong nước (1991), Bộ luật Lao động (1993), Luật Phá sản doanh nghiệp (1994), Luật Thương mại (1997), Luật Ngân hàng (1997), Luật Thuế giá trị gia tăng (1998), Luật Đất đai (2003), Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Chứng khoán (2006), Luật Viễn thông, Luật Thuế tài nguyên (2009), Luật khoáng sản, Luật kiểm toán độc lập (2011)… Chính phủ đã ban hành nhiều nghị định, quyết định; các bộ, ngành ban hành nhiều thông tư, hướng dẫn nhằm cụ thể hóa các luật.

    Quan hệ giữa các tổ chức, đơn vị kinh tế với Nhà nước là quan hệ trực tiếp, có quan hệ biện chứng với nhau. Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, các tổ chức, đơn vị kinh tế đã phát huy tính tự chủ, năng động sáng tạo, đạt nhiều thành tựu to lớn. Đồng thời, khi hệ thống văn bản, pháp luật về kinh tế còn đang tiếp tục vận động để đi đến sự định hình, các tổ chức kinh tế vẫn cố gắng tìm những hành lang phát triển vừa không trái pháp luật, vừa khơi dậy được những tiềm năng và nội lực của nền kinh tế. Điều này đã góp phần xây dựng Nhà nước vững mạnh, từng bước hoàn thiện theo các tiêu chí của NNPQ XHCN.

    Tuy nhiên, quan hệ giữa Nhà nước với các tổ chức kinh tế cũng có những mặt yếu kém. Ở nhiều địa phương, đời sống kinh tế- xã hội vẫn còn tiềm ẩn những nhân tố thiếu ổn định. Hệ thống lý luận về xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đã được khẳng định về những định hướng cơ bản, song việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ và phương thức quản lý các tổ chức kinh tế của chính quyền các cấp vẫn chưa phát triển kịp với tình hình thực tiễn đất nước, chưa đáp ứng được yêu cầu cuộc sống. Một số cơ quan nhà nước, chính quyền các cấp vẫn chưa làm tốt chức năng quản lý các tổ chức kinh tế, nhất là các doanh nghiệp ngoài nhà nước, thậm chí cản trở, gây bức xúc trong xã hội.

    2.1.3. Một số vấn đề đặt ra từ thực tiễn quan hệ giữa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với xã hội dân sự

    - Một là, cần rút ra những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn quan hệ giữa NNPQ với các tổ chức XHDS.

    - Hai là, để xây dựng chính quyền thực sự hợp lòng dân, gắn bó mật thiết với dân nhằm hoàn thiện quan hệ giữa NNPQ với XHDS, việc phát huy vai trò hạt nhân chính trị của chính quyền nhà nước đối với XHDS là bài học kinh nghiệm lớn.

    - Ba là, cần khẩn trương xây dựng lý luận về XHDS trong điều kiện một đảng cộng sản cầm quyền.

    - Bốn là, cần giải quyết tốt mối quan hệ giữa NNPQ với XHDS trong điều kiện phát triển KTTT. XHDS, NNPQ và KKTT được coi như một “tam giác động lực”, giải quyết tốt mối quan hệ “bộ ba” này sẽ tạo ra nguồn lực tổng hợp cho sự phát triển bền vững của đất nước.

    - Năm là, khẩn trương xây dựng cơ chế phản biện và giám sát cho XHDS.. 

    - Sáu là, cần ngăn chặn nguy cơ chệch hướng trong phát triển XHDS.

    2.2. Kinh nghiệm một số nước trên thế giới về giải quyết mối quan hệ giữa nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự

    2.2.1. Khái quát chung về kinh nghiệm của một số nước trên thế giới

    Tại một số nước châu Âu, Nhà nước đã phối hợp hết sức tốt với XHDS trong việc chống lại nghèo đói, mà điển hình là sự phối hợp tìm kiếm việc làm, đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội.

    XHDS còn đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc giải quyết vấn đề giáo dục, môi trường, y tế

    XHDS thực hiện giám sát, phản biện NNPQ là một trong những cơ chế hết sức quan trọng nhằm hạn chế quyền lực nhà nước, thực thi dân chủ, đảm bảo tính minh bạch trong hoạt động của nhà nước, nhất là trong việc kiểm soát các hành vi tham nhũng, xây dựng chính sách và đảm bảo tính dân chủ của HTCT.

    Để chống tham nhũng, vào năm 1980 Toàn quyền Hồng Kông đã lập ra Uỷ ban Độc lập chống tham nhũng ICAC (Independent Commission Againts Corruption). Cơ quan này đã biết dựa vào XHDS để thay đổi cách nhìn của dân chúng về tham nhũng.

    Ở Thái Lan, chỉ số minh bạch ngày càng tăng trong những năm gần đây. Trong thành công đó có sự đóng góp rất lớn của XHDS. Năm 2003, mạng lưới nhân dân ngăn chặn và chống tham nhũng được thành lập, với sự tham dự của nhiều tổ chức XHDS.

    Tại Israel, thành lập Tổ chức Vận động Liêm chính Quốc gia Israel vào năm 1990. Đây là tổ chức mang tính chất phi chính phủ, phi lợi nhuận và phi đảng phái. Tổ chức này hiện có hơn 13.000 hội viên, là tổ chức phòng chống tham nhũng lớn nhất và có ảnh hưởng nhất tại Israel. Để khỏi bị lệ thuộc, Tổ chức này không nhận bất cứ hỗ trợ tài chính nào từ phía Chính phủ và hoạt động bằng tiền quyên góp của các hội viên.

    Bên cạnh việc giám sát, chống tham nhũng, XHDS còn tham gia một cách tích cực vào việc tư vấn và phản biện chính sách của chính phủ. Tại Nhật Bản, Hàn Quốc các chính sách của nhà nước đưa ra thường có sự tham vấn, lấy ý kiến của đại diện công đoàn, của các nghiệp đoàn có uy tín và ảnh hưởng lớn trong xã hội.

    Vai trò của XHDS trong các cuộc bầu cử là rất lớn, ở nhiều quốc gia, các tổ chức xã hội đã rất tích cực trong việc giám sát các cuộc bầu cử, tạo nên môi trường dân chủ trong hoạt động của bộ máy nhà nước.

    Ở Mỹ, nói đến XHDS, người ta nói đến các tổ chức xã hội của công dân. NNPQ Mỹ tạo mọi điều kiện để phát triển các loại hình tổ chức này.

    - Các tổ chức xã hội của công dân - các tổ chức phi chính phủ (NGO), hội ngành nghề, công đoàn, câu lạc bộ, hội (quỹ) từ thiện, đoàn luật sư, các Think-tank… có tác dụng rất lớn phát huy trí tuệ, ý thức trách nhiệm và đạo đức của từng người dân, thể hiện quan điểm, nguyện vọng của dân chúng trước hiện trạng xã hội hoặc chủ trương chính sách của chính quyền, đấu tranh bảo vệ công lý và quyền lợi của dân, đòi hỏi chính quyền lắng nghe dân, đề xuất giải pháp về các vấn đề đối nội đối ngoại, giúp chính phủ tránh được những quyết sách sai lầm.

              - Lĩnh vực cộng đồng công dân: là tên gọi chung của mọi không gian để công dân gặp gỡ, trao đổi ý kiến, hình thành quan điểm chung và dư luận.

              - Phong trào xã hội (chủ yếu nói các phong trào có nòng cốt là tầng lớp trung lưu, thành phần chính trong XHDS) với hình thức chính là mít tinh, biểu tình quần chúng, nhằm thể hiện mạnh mẽ ý chí nguyện vọng của dân, gây sức ép đòi chính phủ sửa các chính sách sai lầm.

    Trên thực thế, XHDS Mỹ có đặc điểm: có rất nhiều tổ chức tự nguyện của công dân; nhà nước tách rời tôn giáo; thực hành chủ nghĩa liên bang (khác với chủ nghĩa quốc gia ở châu Âu); bảo vệ tự do cá nhân như một giá trị của đạo Tin Lành; đạo đức xã hội văn minh và phong phú.

              XHDS Mỹ góp phần quan trọng vào việc quản lý mọi mặt đời sống xã hội. Rất nhiều vấn đề nhà nước không thể làm được hết mà phải nhờ dân tự làm, như giúp người nghèo đói, già yếu, lang thang cơ nhỡ, trẻ mồ côi, bảo vệ môi trường, phòng chống ma túy, chống bạo lực gia đình…

              Nằm giữa hai lĩnh vực nhà nước và cá nhân, XHDS có tác dụng điều hòa lợi ích cá nhân với lợi ích xã hội, tạo cơ hội để người dân thực hiện tốt nhất các quyền làm chủ đất nước.

    Từ thiện là hoạt động quan trọng nhất trong XHDS Mỹ. Sau Chiến tranh Thế giới thứ II, hoạt động từ thiện của người Mỹ được mở rộng ra ngoài nước; kinh phí giúp nhân dân các nước nghèo lớn hơn cả từ thiện trong nước.

              Hoạt động từ thiện ở Mỹ đạt trình độ hoàn thiện cao và có quy mô lớn, 2/3 số tổ chức xã hội ở Mỹ là tổ chức từ thiện. Từ thiện đã trở thành thói quen của người Mỹ. 70% các gia đình làm từ thiện, mỗi gia đình hàng năm góp bình quân 900 USD hoặc 2,2% tổng thu nhập; ngoài ra còn làm lao động công ích trị giá 1200 USD/năm góp cho từ thiện.

              Người giàu ở Mỹ hăng hái làm từ thiện; họ không quên danh ngôn Chết trong giàu sang là cái chết ô nhục. Năm 2010, B.Gates cùng người giàu thứ hai là W.Buffett phát động Phong trào cam kết hiến tặng, kêu gọi các nhà giàu cam kết sẽ hiến ít nhất một nửa tài sản cho xã hội. 57/400 người giàu nhất nước Mỹ đã tham gia phong trào này. B.Gates và W.Buffett cam kết hiến 98 và 99% tài sản riêng cho cộng đồng.

              Vì XHDS san sẻ bớt công việc quản lý xã hội nên NNPQ Mỹ ủng hộ XHDS. Toàn bộ các NGO đều được miễn thuế, một số được chính quyền tài trợ. Nhà nước coi trọng giáo dục ý thức công dân cho lớp trẻ. Sách Giáo dục công dân ở Mỹ viết: Nếu chính quyền có sai trái thì bạn phải phê bình họ, như vậy là bạn có thái độ xây dựng. Nếu thấy nhà nước sai mà bạn vẫn nói là đúng, thì đó là thái độ phá hoại.

    2.2.3. Kinh nghiệm Thụy Điển

    Hiến pháp Thụy Điển dẫn nhập bằng các từ ngữ: "Tất cả quyền lực công đều bắt nguồn từ người dân". Truyền thông độc lập và tự do, hệ thống chính quyền cởi mở và minh bạch, các thiết chế khả hoạt và một XHDS đa nguyên là những thành phần sống còn để có được một thể chế dân chủ ở Thụy Điển.

    Một đặc điểm khác của mô hình Thụy Điển là hợp đồng xã hội được thoả thuận giữa Nhà nước, xí nghiệp và công đoàn. Khoảng 80% nhân viên là thành viên công đoàn và không một cuộc cải tổ quan trọng nào có thể tiến hành mà không có sự chấp thuận của họ.

    Cùng với nguyên tắc NNPQ, sự tôn trọng các quyền dân sự và chính trị phải được coi là yếu tố quyết định trong quá trình xây dựng các hệ thống dân chủ có khả năng vận hành và giảm đói nghèo trên tất cả mọi phương diện:

    - Thứ nhất, đảm bảo quyền thông tin và được thông tin của người dân.

    - Thứ hai, dư luận giám sát công khai, là biện pháp hạn chế mạnh mẽ sự phát sinh và lan tràn các hiện tượng bất công xã hội.

    2.2.4. Kinh nghiệm Singapo

    Có thể nói, XHDS ở Singapo có nhiều điều kiện phát triển và trở thành một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển của quốc gia này. Để đạt được điều này, ngay từ đầu, Singapo đã khuyến khích tạo ra những yếu tố thuận lợi để XHDS có môi trường phát triển, tất nhiên vẫn đặt trong quan hệ với NNPQ mạnh ở đây.

    Một trong những nhân tố đầu tiên kích thích sự hình thành và phát triển XHDS ở Singapo chính là việc Nhà nước khuyến khích và đề cao quyền thông tin và được thông tin, quyền tiếp xúc với các kênh thông tin đa dạng của người dân..

    Để tăng cường sức mạnh của NNPQ cũng như niềm tin của nhân dân vào nhà nước, Singapo chú ý xây dựng cơ quan chống tham nhũng trong sạch, hiệu quả. Mô hình các hợp tác xã cũng là một nét đặc sắc trong xây dựng XHDS ở Singapo. Ở đất nước này, cứ 2 người dân thì có 1 người là thành viên của hợp tác xã, tức là khoảng 2,5 triệu dân Singapo tham gia vào các loại hình hợp tác xã khác nhau. Các hợp tác xã tín dụng là tổ chức không vì lợi nhuận.

    Trong quá trình phát triển, Singapo luôn chú trọng đến việc xây dựng tính cộng đồng và tạo mọi điểu kiện để tăng cường sự cố kết cộng đồng. Đây cũng là một yếu tố thúc đẩy XHDS ở quốc gia này. Để kiểm soát sự thái quá của XHDS, hướng nó hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, Nhà nước Singapo thực hiện “dân chủ chuyên chế kiểu Singapo”.

    2.2.5. Kinh nghiệm Trung Quốc

    Trung Quốc đã thực hiện những thay đổi lớn về chính trị, chủ trương tách rời chính quyền với xã hội, xây dựng nhà nước pháp trị:

    - Nhà nước ngày càng tôn trọng pháp chế, pháp trị, như cho dân chúng thực hiện quyền tự do lập hội và mít tinh biểu tình (đã ghi trong Hiến pháp nhưng trước đây không thi hành);

    - Nhà nước dần dần tách khỏi xã hội, trước hết là xã hội kinh tế (tức khối doanh nghiệp);

    - Trung ương phân chia bớt quyền lực cho địa phương; chính quyền nới lỏng quản lý công dân. Từ giữa thập niên 80 bắt đầu thực hiện nông thôn tự quản, nông dân trực tiếp bầu ra Ủy ban thôn dân để giải quyết mọi công việc trong làng.

    - Tinh giản bộ máy nhà nước, giảm chức năng kinh tế, xã hội, tăng cường chức năng quản lý hành chính; chính quyền không còn quản lý sản xuất kinh doanh, các việc dân sự, văn hóa nghệ thuật, học thuật nữa, mà để các tổ chức dân gian (như các hội ngành nghề) tự quản lý.

    Mở rộng dân chủ cơ sở là thành tích nổi bật nhất, như mở rộng quyền trực tiếp bầu cử, ban hành Luật Bầu cử, quy định Hội đồng nhân dân từ cấp huyện trở xuống phải do cử tri trực tiếp bầu, không được đề cử ứng viên mà để dân tự chọn; ban hành chế độ bầu cử trực tiếp Ủy ban Thôn dân tại mỗi làng xã, Ủy ban Dân phố tại mỗi khu phố ở thành thị, đều không được chỉ định sẵn ứng cử viên. Các ủy ban này không phải là cơ quan chính quyền mà là tổ chức tự quản của dân.

    Các cải cách về kinh tế và chính trị đã tạo điều kiện thuận lợi để xu thế thành lập các tổ chức xã hội phát triển rất mạnh. Đến năm 2010 cả nước đã có gần 700 nghìn tổ chức xã hội đăng ký hoạt động; trên thực tế Trung Quốc hiện có khoảng 3 triệu tổ chức xã hội và con số này đang tăng lên với tốc độ mỗi năm 8-10%. Như vậy bình quân 400 người có một tổ chức của công dân (ở Mỹ là 300 người). Điều đó nói lên XHDS Trung Quốc hình thành và phát triển nhanh mạnh tới mức đáng ngạc nhiên.

    Cơ cấu tổng thể xã hội Trung Quốc đã phân hóa thành 3 khu vực độc lập tương đối với nhau: Khu vực nhà nước với đại diện là quan chức chính quyền, cơ sở là tổ chức chính quyền; Khu vực thị trường với đại diện là các chủ doanh nghiệp, cơ sở là tổ chức doanh nghiệp; Khu vực các tổ chức xã hội của công dân, tức khu vực xã hội công dân (còn gọi là khu vực thứ ba) với đại diện là các tầng lớp xã hội, cơ sở là mấy triệu tổ chức xã hội nói trên. Giới học giả Trung Quốc cho rằng từ đầu thế kỷ XXI nước này đã hình thành XHDS – thành quả vĩ đại của tiến trình cải cách mở cửa.

    Trung Quốc hiện đang tích cực xây dựng xã hội hài hòa. Mâu thuẫn lợi ích là trở ngại lớn nhất của việc xây dựng xã hội hài hòa. Phát triển XHDS chính là biện pháp thúc đẩy xây dựng xã hội hài hòa, trong đó các tổ chức xã hội có tác dụng quan trọng; không có XHDS lành mạnh thì không thể có một xã hội thực sự hài hòa.

     

    CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT TỐT MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VÀ XÃ HỘI DÂN SỰ Ở VIỆT NAM

    3.1. Một số phương hướng cơ bản

    3.1.1. Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân

    Cần tập trung hoàn thiện các chức năng quản lý kinh tế, quản lý xã hội của Nhà nước phù hợp với điều kiện phát triển KTTT định hướng XHCN và hội nhập quốc tế; không ngừng nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, trong đó tập trung: 1)) thực hiện tốt chức năng của Nhà nước, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường; 2) hoàn thiện bộ máy nhà nước, tạo bước chuyển mạnh mẽ về cải cách hành chính; 3) đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí; 4) tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, pháp huy quyền làm chủ của nhân dân, của XHDS trong xây dựng NNPQ XHCN.

    3.1.2. Đẩy mạnh xây dựng và phát triển xã hội dân sự

    - Xây dựng, phát triển XHDS phải gắn liền với cải cách HTCT.

    - Xây dựng, phát triển XHDS gắn liền với việc mở rộng dân chủ; giữ vững ổn định chính trị - xã hội.

    - Xây dựng, phát triển XHDS gắn liền với xây dựng NNPQ, hoàn thiện thể chế KTTT.

    - Xây dựng, phát triển XHDS phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước.

    3.1.3. Đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng, phát huy dân chủ xã hội, bảo đảm toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân

    Các tổ chức đảng phải thật sự tôn trọng hoạt động của Nhà nước, đề cao vị trí và uy tín của Nhà nước không chỉ trong quan hệ công tác mà cả trong đời sống xã hội.

    XHDS (hạt nhân là Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức CT-XH) có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Yêu cầu đổi mới HTCT, phát huy dân chủ, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân đã và đang đặt ra những đòi hỏi cấp bách trong đổi mới chức năng, nhiệm vụ, phương thức tổ chức và hoạt động của các tổ chức XHDS, theo hướng: “Tiếp tục tăng cường tổ chức, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động… thực hiện dân chủ, giám sát và phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh;…”[2].

    Nhà nước cần chủ động tạo ra những cơ chế cho việc thúc đẩy dân chủ trực tiếp.

    Nâng cao văn hoá dân chủ cho cả người dân và cán bộ, công chức nhà nước là việc làm cần thiết trong bối cảnh xây dựng NNPQ XHCN hiện nay.

    3.2. Những giải pháp chủ yếu

    3.2.1. Nhóm giải pháp về nhận thức

    - Một là, nâng cao nhận thức của Đảng, Nhà nước và người dân về vai trò của NNPQ đối với XHDS.

    - Hai là, nâng cao nhận thức về vai trò của XHDS đối với NNPQ XHCN.

    - Ba là, nâng cao nhận thức của người dân và chính quyền các cấp về dân chủ, về vai trò, vị trí của của các đoàn thể nhân dân, các hội, tổ chức phi chính phủ, các cộng đồng công dân…

    - Bốn là, giáo dục, nâng cao nhận thức về các quyền cá nhân và trách nhiệm cộng đồng để người dân, cho các đơn vị kinh tế, tổ chức xã hội…

    - Năm là, nâng cao nhận thức của người dân về năng lực và tiềm năng của mình trong việc thực thi dân chủ và tham gia vào các hoạt động quản lý nhà nước và xã hội.

    - Sáu là, việc nâng cao nhận thức của Đảng, Nhà nước và người dân về mối quan hệ giữa NNPQ XHCN và XHDS có thể được thực hiện thông qua nhiều kênh.

    3.2.2. Nhóm giải pháp về thể chế

    - Một là, xây dựng và hoàn thiện thể chế NNPQ XHCN.

    - Hai là, xây dựng và hoàn thiện các khung pháp lý cho tổ chức và hoạt động của XHDS.

    - Ba là, xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý về chức năng giám sát, phản biện xã hội của các tổ chức XHDS.

    3.2.3. Nhóm giải pháp về tổ chức thực hiện

    - Thứ nhất, mở rộng quyền tự do dân chủ của người dân.

    - Thứ hai, hoàn thiện các qui định pháp luật về quyền tự do, dân chủ.

    - Thứ ba, tiếp tục đổi mới và hoàn thiện cơ chế thực thi dân chủ.

    - Thứ tư, đổi mới cơ chế thảo luận và ra quyết định.

    - Thứ năm, tăng cường quyền tham gia của người dân vào các quá trình kinh tế -xã hội.

    - Thứ sáu, xây dựng cơ chế phản biện và giám sát xã hội.

    - Thứ bảy, xây dựng cơ chế hợp tác giữa NNPQ và XHDS.

    3.2.3. Nhóm giải pháp về nguồn lực (tài chính và con người)

    - Thứ nhất, thúc đẩy và hoàn thiện các thể chế, quan hệ thị trường chính là để xác lập cơ sở kinh tế cho NNPQ và XHDS.

    - Thứ hai, cần có cơ chế, chính sách tạo cơ sở vật chất và các nguồn lực tài chính cho XHDS.

    - Thứ ba, đẩy mạnh hợp tác đào tạo nguồn nhân lực cho XHDS.

    - Thứ tư, hợp tác với các tổ chức XHDS nước ngoài để kết hợp, chia sẻ các nguồn lực, hỗ trợ về tài chính, kinh nghiệm hoạt động.



    [1] Liên minh thế giới vì sự tham gia của công dân CIVICUS (2006), Đánh giá ban đầu về XHDS tại Việt Nam. H., tr. 58.

    [2] Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. CTQG, H., tr. 246.

    • Năm phát hành
    • Đang truy cập:1
    • Hôm nay: 0
    • Tháng hiện tại: 128
    • Tổng lượt truy cập: 1
    Địa chỉ: 36 Xuân Thủy - Cầu Giấy - Hà Nội
    Email: website@ajc.edu.vn
    Liên hệ: (84-024) 37.546.963
    Fax: (84-024) 37548949